Phòng xử án chật kín người. Hai cụ già tóc bạc ngồi nép vào nhau, đôi mắt đỏ hoe. Trước mặt là 11 người con ruột, chia thành từng phe, mặt đỏ gay cãi vã, tiếng quát tháo vang cả hội trường. Tất cả chỉ vì mảnh đất 1.200m2 của cha mẹ để lại.
Ông cụ run rẩy rút trong áo ra 5 chiếc sổ đỏ đặt lên bàn, giọng nghẹn ngào:
– “Cả đời cha mẹ tần tảo mới có được chút này… đâu ngờ đến lúc về già lại phải ngồi tòa nhìn các con kiện tụng nhau.”
Ngay lập tức, 6 người con trai ào lên, ai cũng tranh giành phần hơn. Có người còn giả vờ khóc lóc, đòi giành quyền nuôi mẹ để được cầm đất, được hưởng phần sổ đỏ nhiều hơn. Những người con gái thì nghẹn ngào, uất ức vì bị gạt ra bên lề.
Không khí căng thẳng đến nghẹt thở. Đúng lúc ấy, ông bố gạt nước mắt, bất ngờ đứng dậy, giọng lạnh như băng:
– “Các người có còn coi chúng ta là cha mẹ nữa không? Nếu đã vì đất mà quên hết nghĩa tình ruột thịt, thì nghe đây: Cả 5 sổ đỏ này, tôi đã sang tên cho… trại dưỡng lão rồi.”
Cả khán phòng sững người, 11 anh em há hốc miệng. Những tiếng cãi cọ bỗng chốc tắt ngấm. Người mẹ ôm mặt khóc nấc, còn ông bố thì tiếp lời, từng chữ rành rọt:
– “Cha mẹ không cần con cái nuôi bằng miếng đất. Thứ cha mẹ cần là một vòng tay thật lòng… nhưng xem ra, các con chẳng ai còn giữ nổi.”
Không khí trong phòng tòa nặng như chì. Lời tuyên bố ấy như một tiếng sét, khiến 11 người con bàng hoàng, mặt mày tái nhợt – khi tất cả nhận ra, đất có thể tranh, nhưng tình thân thì họ đã vĩnh viễn đánh mất.
Mẹ mất sớm nên mình bố nuôi chúng tôi ăn học, đến khi khấm khá hơn ông đòi lấy vợ 2, đến ngày chia đất, ông cho 2 con trai tiền, còn 500m2 đất để cho mẹ kế – News
Nhà ông Văn ở ven thị trấn có ba anh em: Hòa, Thắng và Nam.
Mẹ mất sớm, ông Văn một mình tần tảo nuôi con, vừa làm ruộng vừa đi bốc vác thuê.
Ba anh em lớn lên đều đỗ đạt, người làm công ty, người mở cửa hàng, chỉ còn ông sống neo đơn trong căn nhà cũ giữa mảnh vườn rộng gần 1.500m².
Khi ông Văn ngoài 60, ông đưa về một người phụ nữ tên Hạnh, ít hơn ông hơn chục tuổi, hiền lành, gầy gò, làm nghề bán hàng rong.
Ban đầu, các con phản đối dữ dội, nhưng thấy bố cương quyết, họ đành chấp nhận.
Thời gian trôi, bà Hạnh mang thai, bụng lùm lùm mà vẫn đi chợ nấu cơm, giặt giũ, chăm ông Văn chu đáo.
Thế nhưng, khi nghe tin ông Văn lập di chúc, trong đó chia cho ba con trai mỗi người 300m², còn lại 500m² để cho bà Hạnh làm chỗ nương thân, ba anh em bắt đầu khó chịu.
Hòa – anh cả – nói thẳng:
“Bố có vợ hai thì con không ý kiến, nhưng đất này là của mẹ con để lại, bà ấy là người ngoài, sao lại chia thế được?”
Ông Văn tức giận đập bàn:
“Mẹ tụi bây mất hai mươi năm rồi. Người ta ở bên chăm tao lúc ốm yếu, lẽ ra phải biết ơn, không phải giành giật!”
Nhưng lời ông nói như gió thoảng.
Từ đó, ba anh em bàn mưu ép bà Hạnh rời khỏi nhà, lấy lý do “bà là người ngoài không có quyền sở hữu đất”.
Một buổi chiều mưa, khi bà Hạnh mang bầu tám tháng, Hòa cùng Thắng kéo nhau đến, đập cửa, lạnh lùng:
“Bà thu dọn đồ đi, bố bệnh nặng rồi, đất này chúng tôi phải quản lý!”
Bà Hạnh lặng lẽ gói ghém ít quần áo, nước mắt rơi lã chã, chỉ xin được ở lại đến khi sinh.
Nhưng họ không cho.
Bà dắt theo cái bụng vượt mặt, rời khỏi nhà giữa mưa tầm tã, chẳng ai tiễn.
Một tháng sau, ông Văn mất.
Đám tang vội vàng, ba anh em làm thủ tục sang tên đất ngay.
Họ hả hê, cho rằng mình “lấy lại được phần của mẹ”.
Thế nhưng đúng 30 ngày sau, xã gọi điện mời lên làm việc gấp.
Tại đó, cán bộ địa chính đưa ra giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới, trên đó ghi rõ:
Chủ sở hữu: Trần Thị Hạnh.
Cả ba anh em chết sững.
Hóa ra, trước khi mất, ông Văn đã kịp ra công chứng điều chỉnh di chúc, chuyển toàn bộ 1.500m² sang tên vợ hai – vì “các con bất hiếu, đuổi vợ ông ra khỏi nhà khi ông đang nằm viện.”
Chưa kịp định thần thì có người báo tin:
Bà Hạnh đã sinh một bé trai kháu khỉnh, và đã chuyển về căn nhà mới xây ngay trên mảnh đất cũ.
Bà chỉ nhắn với người quen:
“Tôi không lấy của ai cả, chỉ giữ lại thứ mà chồng tôi tin tưởng giao phó.”
Giờ, mỗi lần đi ngang qua con đường cũ, ba anh em chỉ biết cúi đầu.
Mảnh đất họ từng coi là “phần của mẹ ruột” giờ thành nơi đứa em cùng cha khác mẹ lớn lên, còn họ chỉ còn biết đứng ngoài hàng rào nhìn vào.