SỐNG Ở NHÀ CON RỂ 15 NĂM, ĐẾN KHI CĂN NHÀ Ở QUÊ ĐƯỢC ĐỀN BÙ, HAI CON TRAI HỚN HỞ TỚI ĐÒI CHIA TIỀN
Tôi có ba người con, hai trai một gái.
Ngày còn trẻ, tôi từng nghĩ chỉ cần mình sống tử tế, yêu thương các con hết lòng thì về già, chẳng cần phải lo mình sẽ cô độc. Nhưng rồi tôi mới hiểu, sinh ra ba đứa con không có nghĩa là cả ba đứa đều biết trân trọng tình mẹ.
Con gái út lấy chồng xa. Chồng nó là người thành phố, công việc ổn định nhưng chưa bao giờ tỏ ra coi thường mẹ vợ. Ngược lại, từ ngày chồng tôi mất, chính thằng rể là người nhiều lần gọi điện bảo:
“Ở quê một mình làm gì cho khổ hả mẹ? Mẹ lên đây ở với vợ chồng con. Nhà con còn phòng, mẹ cứ coi đây là nhà mình.”
Ban đầu tôi ngại.
Tôi sợ người già ở chung với con cái lâu ngày sẽ trở thành gánh nặng. Tôi càng sợ người ngoài dị nghị rằng tôi già rồi còn phải dựa vào con gái.
Nhưng con gái tôi chỉ cười:
“Mẹ nuôi con cả đời được thì con chăm mẹ vài chục năm có gì mà ngại?”
Thế là tôi lên thành phố.
Một năm rồi năm năm, mười năm rồi mười lăm năm.
Suốt quãng thời gian ấy, tôi chẳng có một ngày nào thật sự ngồi không.
Tôi chăm cháu, nấu cơm, dọn dẹp nhà cửa, khi thì đón cháu tan học, khi thì chuẩn bị cơm tối chờ hai vợ chồng nó đi làm về. Những việc ấy với tôi chẳng có gì to tát. Tôi chỉ nghĩ mình còn khỏe thì giúp được con cái điều gì hay điều đó.
Con gái tôi cũng chưa bao giờ coi những việc ấy là bổn phận của tôi.
Mỗi tháng nó đều đưa tiền cho mẹ. Tôi không lấy nhiều, phần lớn lại để dành hoặc mua quà cho các cháu.
Còn thằng rể thì lúc nào cũng coi tôi như mẹ ruột.
Có lần tôi bị sốt giữa đêm, người lạnh run. Con gái còn chưa kịp gọi xe, nó đã mặc vội áo khoác, lái xe đưa tôi thẳng vào bệnh viện.
Suốt mấy ngày tôi nằm viện, chính nó chạy đi chạy lại lo thủ tục, mua thuốc, lấy cơm cháo. Có hôm tôi tỉnh dậy lúc gần sáng, thấy thằng rể đang nằm gục trên chiếc ghế bên cạnh giường bệnh.
Tôi nhìn nó mà nước mắt cứ thế chảy xuống.
Tôi nghĩ bụng:
“Có lẽ ông trời lấy đi một người, nhưng lại bù cho mình một gia đình khác.”
Còn hai đứa con trai của tôi thì sao?
Từ ngày tôi lên thành phố, chúng gần như biến mất khỏi cuộc đời mẹ.
Không phải chúng không biết tôi ở đâu.
Chúng biết.
Có số điện thoại của tôi, biết địa chỉ nhà con gái, thậm chí có những dịp lễ Tết tôi vẫn chủ động gọi điện hỏi thăm.
Nhưng những cuộc gọi ấy ngày càng thưa dần.
Có năm, cả hai đứa chỉ gọi cho tôi đúng một lần vào dịp Tết.
Chúng hỏi:
“Mẹ khỏe không?”
Tôi bảo khỏe.
Chúng lại hỏi:
“Ở trong đó có thiếu thốn gì không?”
Tôi nói:
“Không thiếu gì cả.”
Rồi cuộc gọi kết thúc.
Tôi cũng chẳng trách.
Tôi luôn tự an ủi mình rằng con trai lớn rồi, có gia đình riêng, ai cũng có cuộc sống riêng. Chỉ cần chúng sống tốt là được.
Căn nhà cũ dưới quê của vợ chồng tôi vì thế bị bỏ không nhiều năm.
Đó là căn nhà chúng tôi đã dành cả tuổi trẻ để dựng lên. Trong sân có cây khế già, phía sau có mảnh vườn nhỏ. Chồng tôi từng nói:
“Sau này già rồi, mình sẽ về đây sống.”
Nhưng ông ấy chưa kịp thực hiện lời hứa thì đã qua đời.
Tôi lên thành phố sống với con gái, căn nhà cứ thế đóng cửa.
Tôi cứ tưởng nó sẽ nằm im như vậy cho đến cuối đời.
Không ngờ vài năm sau, quê tôi có dự án đường cao tốc đi qua.
Cán bộ xã xuống từng nhà kiểm kê đất đai, tài sản. Một thời gian sau, tôi nhận được thông báo chính thức về khoản tiền đền bù.
Gần 2,8 tỷ đồng.
Nghe con số ấy, tôi sững người.
Tôi không phải người tham tiền. Nhưng đó là tài sản của vợ chồng tôi tích góp cả đời. Đột nhiên nó trở thành một khoản tiền lớn đến mức tôi cũng không biết nên làm gì.
Tôi định bụng sau khi nhận tiền sẽ sửa sang lại cuộc sống, dành một phần phòng khi tuổi già đau ốm, phần còn lại tính sau.
Nhưng tôi chưa kịp quyết định thì một chuyện khác đã xảy ra.
Không biết tin tức từ đâu truyền đến, hai đứa con trai của tôi bỗng nhiên xuất hiện.
Một buổi chiều, người hàng xóm gọi điện:
“Bà ơi, hai thằng con trai bà về quê đấy. Nghe nói chúng đang hỏi chuyện tiền đền bù.”
Tôi nghe xong chỉ im lặng.
Quả nhiên vài ngày sau, hai chiếc ô tô bóng loáng chạy thẳng về xã.
Hai đứa con trai mà bao năm chẳng thấy mặt mẹ, lần này lại xuất hiện rất nhanh.
Chúng không lên thành phố thăm tôi.
Chúng tới thẳng xã.
Thằng cả vừa gặp tôi đã nói ngay:
“Bà mẹ, chuyện tiền đền bù tính thế nào?”
Tôi hỏi:
“Tiền gì?”
Nó nhíu mày:
“Tiền căn nhà dưới quê chứ còn tiền gì nữa? Nhà của bố mẹ thì chúng con cũng có phần.”
Thằng út đứng bên cạnh lập tức phụ họa:
“Bao năm mẹ không ở quê, tụi con vẫn là con của mẹ. Với lại nhà đất đó sau này chẳng phải cũng để lại cho anh em chúng con sao?”
Tôi nhìn hai đứa.
Lạ thật.
Mười lăm năm qua, khi tôi nằm viện, chẳng đứa nào có mặt.
Khi tôi đau ốm, chẳng đứa nào hỏi một câu.
Ngày giỗ bố chúng, tôi còn phải tự nhắc chúng nhớ.
Vậy mà khi nghe đến gần 2,8 tỷ đồng, chúng lại nhớ rất rõ mình là con của tôi.
Thằng cả còn đập tay xuống bàn:
“Bà chia ba đi! Một phần của mẹ, một phần của con, một phần của em. Thế là công bằng.”
Tôi nhìn nó hồi lâu rồi bất ngờ bật cười.
Tôi cười rất tươi.
Tươi đến mức cả hai đứa đều ngạc nhiên.
Tôi gọi cán bộ địa chính tới, trước mặt chúng nói:
“Được. Mẹ đồng ý chia.”
Hai đứa lập tức nhìn nhau.
Tôi còn nói thêm:
“Các con cứ yên tâm. Chuyện này mẹ sẽ giải quyết đàng hoàng.”
Chúng hí hửng ra mặt.
Từ hôm đó, thái độ thay đổi hẳn.
Thằng cả gọi điện nhiều hơn.
Thằng út còn nhắn tin hỏi:
“Mẹ định chia tiền thế nào?”
Tôi chỉ trả lời:
“Đến lúc rồi các con sẽ biết.”
Tôi không nói thêm.
Bởi vì trong đầu tôi lúc ấy đã có một quyết định.
Tôi muốn cho chúng hiểu một điều:
Tình thân không phải thứ chỉ được nhớ đến khi có tiền.
Tôi mời cả hai lên thành phố ăn một bữa cơm.
Chúng đến rất sớm.
Tôi nấu một mâm cơm thật tươm tất. Con gái và con rể cũng có mặt.
Bữa cơm hôm ấy nhìn bề ngoài chẳng khác gì một gia đình đoàn tụ sau nhiều năm.
Hai đứa con trai ngồi cười nói, thậm chí còn hỏi han tôi vài câu.
Tôi cũng vui vẻ gắp thức ăn cho chúng.
Không ai biết rằng trong căn phòng bên cạnh, tôi đã chuẩn bị sẵn một tập hồ sơ.
Ăn được một lúc, tôi đặt đũa xuống.
“Mẹ có chuyện muốn nói.”
Hai đứa con trai lập tức ngẩng lên.
Tôi lấy tập hồ sơ đặt lên bàn.
“Đây là giấy tờ liên quan đến căn nhà và khoản tiền đền bù.”
Thằng cả nhanh chóng cầm lên xem.
Tôi chậm rãi nói:
“Mẹ đã làm thủ tục rồi.”
Nó hỏi:
“Thủ tục gì?”
Tôi nhìn thẳng vào mắt hai đứa:
“Khoản tiền đền bù đó, mẹ đã quyết định sang cho em gái và em rể các con.”
Cả căn phòng im phăng phắc.
Thằng cả tưởng mình nghe nhầm:
“Mẹ nói cái gì?”
Tôi bình thản nhắc lại:
“Tiền đó mẹ cho em gái các con.”
Thằng út lập tức đứng bật dậy:
“Không được! Mẹ không thể làm thế!”
Tôi vẫn ngồi yên.
“Vì sao không thể?”
Nó nghẹn lời.
Tôi nói:
“Suốt mười lăm năm qua, khi mẹ sống với em gái các con, ai chăm mẹ? Ai lo cơm nước? Ai đưa mẹ đi bệnh viện? Ai mua thuốc? Ai ở bên mẹ những lúc đau yếu?”
Không ai trả lời.
Tôi quay sang con gái.
Nó cúi đầu, mắt đỏ hoe.
Rồi tôi nhìn thằng rể.
Nó chỉ im lặng, như thể không muốn tranh giành bất cứ thứ gì.
Tôi nói:
“Các con có thể nghĩ mẹ thiên vị. Nhưng mẹ không cho ai vì thương hại cả.”
Tôi đặt tay lên tập hồ sơ.
“Mẹ cho người đã ở bên mẹ khi mẹ chẳng còn gì ngoài tuổi già.”
Hai đứa con trai bắt đầu lớn tiếng.
Chúng trách tôi thiên vị.
Chúng nói tôi bị con gái xúi giục.
Chúng thậm chí còn cho rằng vì mình là con trai nên đương nhiên phải có phần.
Tôi nghe hết.
Rồi tôi chỉ nói một câu:
“Các con nhầm rồi.”
“Làm con không phải là một cái danh để đến lúc chia tiền mới đem ra đòi quyền lợi.”
“Làm con là khi mẹ bệnh vẫn nhớ đến mẹ. Khi mẹ cô đơn vẫn hỏi han. Khi mẹ chẳng có gì để cho, các con vẫn muốn ở bên.”
Tôi nhìn hai đứa con trai, giọng nhẹ đi:
“Mẹ không cần các con phải trả lại những gì mẹ từng cho. Mẹ chỉ tiếc rằng đến tận bây giờ, các con vẫn chưa hiểu điều đó.”
Hai đứa vẫn không chịu chấp nhận.
Nhưng mọi chuyện đã được tôi chuẩn bị đầy đủ.
Tài sản và khoản tiền đền bù đều thuộc quyền định đoạt hợp pháp của tôi, và các thủ tục cần thiết đã được thực hiện theo đúng quy định.
Tôi không tranh cãi thêm.
Tôi chỉ bảo:
“Các con về đi.”
Thằng cả đứng đó rất lâu.
Cuối cùng nó nghiến răng kéo em trai ra khỏi cửa.
Cánh cửa khép lại.
Căn nhà trở nên yên tĩnh.
Tôi ngồi xuống ghế, bỗng thấy trong lòng nhẹ đi rất nhiều.
Con gái bước tới ôm lấy tôi.
“Mẹ có buồn không?”
Tôi lắc đầu.
“Có chứ. Mẹ là mẹ của chúng nó, sao có thể không buồn?”
Tôi nhìn ra ban công.
Ngoài kia, thành phố vẫn đông đúc như mọi ngày.
Tôi chợt nhận ra mình không hề vui vì hai đứa con trai trắng tay.
Điều khiến tôi nhẹ lòng là cuối cùng tôi đã tự quyết định được những năm tháng còn lại của mình.
Tôi không muốn dùng tiền để mua tình thân.
Càng không muốn dùng tình thân để đổi lấy tiền.
Tôi chỉ muốn tài sản mình cả đời gây dựng được trao vào tay những người thực sự biết trân trọng nó.
Mười lăm năm sống cùng con gái và con rể đã cho tôi hiểu một điều mà trước đây tôi chưa từng nghĩ đến:
Gia đình không chỉ được tạo nên bởi dòng máu. Gia đình còn được tạo nên bởi những năm tháng người ta thật lòng ở bên nhau.
Hai đứa con trai có thể mang cùng dòng máu với tôi.
Nhưng người từng thức trắng đêm bên giường bệnh lại là con gái.
Người lái xe đưa tôi đến bệnh viện giữa đêm mưa lại là con rể.
Người ngày ngày hỏi tôi hôm nay có đau ở đâu không cũng là họ.
Có những người chỉ đến khi bạn có tiền mới gọi bạn là mẹ.
Cũng có những người chẳng cần bạn có bất cứ thứ gì, vẫn xem bạn là người thân.
Và có lẽ, đó mới là điều đáng giá nhất mà tuổi già có thể nhận ra.
Tôi rót một chén trà, ngồi bên ban công.
Gió chiều thổi nhẹ qua mái tóc bạc.
Tôi không còn thấy cay đắng nữa.
Chỉ thấy lòng mình bình yên.
Bởi sau tất cả, tôi hiểu rằng công bằng không phải là chia mọi thứ thành những phần bằng nhau. Công bằng đôi khi là trao những gì mình có cho người đã thật sự yêu thương và đồng hành cùng mình.
Tôi nhấp một ngụm trà.
Lần đầu tiên sau rất nhiều năm, tôi cảm thấy tuổi già của mình thật sự thuộc về mình.
Và trong khoảnh khắc ấy, tôi chợt mỉm cười.
Không phải vì gần 2,8 tỷ đồng.
Mà vì cuối cùng tôi đã hiểu:
Tiền có thể nhìn thấy bằng mắt, nhưng lòng người thì phải nhìn bằng cả một đời mới biết được.
Nếu muốn, mình có thể tiếp tục chỉnh bản này theo hướng kịch tính hơn, nhiều đối thoại và cú “lật kèo” mạnh hơn, phù hợp để đăng Facebook/TikTok.