Tôi đứng chết lặng sau cánh cửa phòng kho, tay vẫn nắm chặt tấm danh thiếp.
“Con bé biết rồi.” Bốn chữ ấy cứ vọng đi vọng lại trong đầu tôi. Chú Sơn đang nhờ người làm một việc, và việc đó cần làm ngay trong đêm nay, vì tôi đã biết.
Biết gì? Tôi chỉ biết nhà bố mẹ bị đ:ập, còn chú thì nói đất nhà này chú đã lo hết. Nhưng nếu chú sợ đến mức phải gọi người đến trong đêm, nghĩa là chú còn giấu một thứ lớn hơn thế rất nhiều.
Tay tôi hết run. Ba năm làm việc nhà từ năm giờ sáng đã dạy tôi một điều: lúc sợ nhất thì phải làm việc trước, sợ sau.
Tôi rút đ:iện th:oại, bật ghi âm, rồi nhét máy vào túi áo, để lại mép túi hở một chút cho tiếng thu rõ. Tôi lật tấm danh thiếp, bấm đúng số điện thoại in ở mặt trước. Chuông đổ ba hồi.
“A lô, Khoa đây.” Một giọng đàn ông trầm, hơi khàn.
“Bác Khoa ạ, cháu là Vy, con gái bố Hải mẹ Lan ạ.” Giọng tôi nghẹn lại. “Bố cháu để lại danh thiếp của bác trong phong bì. Chú Sơn vừa…”
Đầu dây bên kia im bặt, rồi tiếng ghế kéo mạnh.
“Vy. Cháu nghe bác. Từ giờ phút này, cháu không ký bất cứ tờ giấy nào, không cầm bút, không điểm chỉ, dù ai nói gì. Cháu đang ở nhà chú Sơn đúng không? Bác đến ngay. Mười lăm phút. Cháu cứ bật ghi âm.”
“Cháu bật rồi ạ.”
Ông khựng lại một nhịp, và tôi nghe tiếng thở ra rất khẽ, như nhẹ nhõm. “Giống hệt bố cháu. Giữ máy, đừng cúp.”
Tôi để ông ở đầu dây, nhét phong bì vào trong áo, sát bụng. Rồi tôi bước ra sân.
Chú Sơn đã quay vào nhà. Chiếc xe máy dựng trước hiên. Thím Hạnh đứng bên cạnh, vẻ mặt khó chịu như người bị kéo vào cuộc mà không được báo trước. Thằng Tí đã bị thím đẩy vào buồng trong, tiếng khóc ngoài đó nhỏ dần thành tiếng nấc.
Chưa đầy năm phút sau, tiếng xe máy nữa dừng trước cổng. Hai người đàn ông bước vào. Người đi trước bụng phệ, tóc chải bóng, kẹp chiếc cặp da dưới nách, cười như quen thân từ lâu. Người đi sau trẻ hơn, đeo khẩu trang, ôm một tập hồ sơ.
“Anh Tư, vào đi,” chú Sơn nói, giọng bỗng mềm hẳn. “Đây, con bé đây.”
Anh Tư quét mắt nhìn tôi từ đầu đến chân, như định giá một món hàng.
“Cháu Vy hả? Anh là bạn chú Sơn. Hôm nay gấp quá nên mới phải làm tối. Ngồi xuống, ký một tờ giấy là xong, chú cháu cũng đỡ mệt.”
Anh ta mở cặp, trải một tờ giấy lên mặt bàn ăn, ngay chỗ cơm canh vừa bị hất đã được thím quét vội. Tôi đọc dòng tiêu đề trước khi anh ta kịp che: “GIẤY TỪ CHỐI NHẬN DI SẢN VÀ XÁC NHẬN ĐÃ NHẬN ĐỦ KHOẢN BỒI THƯỜNG”. Cuối giấy ghi ngày tháng của ngày mai, ngày tôi tròn mười tám tuổi. Chỗ ký tên để trống, bên cạnh là một hộp mực đỏ.
Tôi hiểu ra, lạnh người. Họ không định đợi tôi đủ tuổi mới nói chuyện. Họ định bắt tôi ký đêm nay, đề ngày mai, để tờ giấy này trông như tôi tự nguyện ký sau khi đã là người lớn.
“Cháu không ký,” tôi nói.
“Cái gì?” Chú Sơn bước tới. “Mày nói lại?”
“Cháu chưa đủ mười tám tuổi. Giấy đề ngày mai mà ký hôm nay thì là giấy giả. Cháu không ký.”
Nụ cười của anh Tư tắt hẳn. Anh ta nhìn chú Sơn, nhìn tôi, rồi cười nhạt.
“Con bé này biết nhiều đấy.”
“Chuyện nhà tao, tao dạy,” chú gằn. Chú ngồi xuống đối diện tôi, giọng đột nhiên hạ thấp, nghe càng đáng sợ hơn lúc quát. “Vy, chú nói một lần. Chú nuôi mày ba năm, tốn hơn trăm triệu. Chú không đòi mày trả, chú còn cho thêm năm chục triệu để mày đi học. Mày ký, chú thím với mày coi như xong nợ. Mày không ký thì ra khỏi cái nhà này tối nay, tay trắng.”
“Căn nhà đó là của bố mẹ cháu,” tôi nói, mắt nhìn thẳng vào chú. “Chú bán nó đúng không?”
“Bán?” Chú bật cười. “Mày biết bố mày nợ bao nhiêu không? Nợ ngập đầu! Tao phải bán để gánh nợ cho cái nhà này, mày hiểu chưa? Tao là người giám hộ hợp pháp của mày, tao có quyền!”
“Vậy giấy tờ bán đâu ạ? Chú cho cháu xem.”
“Mày là cái thá gì mà đòi xem?”
Tay chú đập mạnh xuống bàn. Hộp mực đỏ nảy lên. Anh Tư nhanh tay đẩy tờ giấy và hộp mực về phía tôi, rồi người đeo khẩu trang bất ngờ bước vòng ra sau lưng ghế tôi.
“Nào cháu, một cái thôi,” anh Tư nói nhỏ, vẫn giọng niềm nở. “Điểm chỉ xong anh chở cháu về phòng nghỉ.”
Chú Sơn túm cổ tay phải của tôi, kéo mạnh về phía hộp mực. Đau điếng. Tôi giãy ra, móng tay cào dài vào mu bàn tay chú, nhưng sức một người đàn ông bốn mươi tuổi không phải thứ tôi chống nổi. Ngón tay cái của tôi bị bẻ ra, sắp chạm vào mặt mực.
“Buông ra!” Tôi hét lên. “Cháu đang ghi âm! Cả đoạn chú nói bố cháu nợ, cả đoạn chú ép cháu điểm chỉ, cháu ghi hết rồi!”
Chú Sơn khựng lại một giây. Anh Tư cũng vậy. Tôi rút đ:iện th:oại từ túi áo, giơ lên ngay giữa bàn. Màn hình sáng, con số ghi âm nhảy từng giây, và đầu dây bên kia, giọng bác Khoa vang nhỏ, rất rõ: “Tôi nghe thấy tất cả.”
Chú Sơn buông tay như vừa chạm lửa.
“Mày… mày gọi ai?”
“Luật sư của bố cháu.”
Mặt chú tái đi. Anh Tư lùi nửa bước, kéo tờ giấy về phía mình, nhét vội vào cặp.
“Ông Sơn, chuyện này không ổn,” anh ta rít khẽ. “Ông bảo con bé không biết gì, không có ai đứng sau.”
“Tao đâu biết!”
“Câm hết đi!”
Tiếng hét không phải của chú. Là thím Hạnh.
Cả căn phòng quay lại. Thím đứng ở cửa buồng, một tay giữ khung cửa, tay kia siết chặt chiếc đ:iện th:oại. Gương mặt thím trắng bệch, không phải vẻ lạnh lùng quen thuộc tôi vẫn thấy suốt ba năm. Đó là gương mặt của một người vừa nghe thấy điều mình mong là không có thật.
“Ông nói bố con Vy nợ,” thím nói, từng chữ rất chậm. “Nợ bao nhiêu? Của ai?”
“Bà vào buồng đi!” Chú quát.
“Tôi hỏi ông, nợ của ai?” Thím tiến lại, giọng run nhưng không lùi. “Ba năm nay tôi nghe ông nói nhà ông anh để lại toàn nợ. Rồi sáu trăm triệu tiền bán nhà đất bên quê, ông bảo là tất cả những gì còn lại sau khi trả nợ cho ông anh. Sáu trăm triệu. Đúng không?”
Chú Sơn im bặt.
Thím lôi từ túi quần ra một xấp giấy gấp tư, đã nhàu, rồi đặt xuống bàn trước mặt tôi. Tôi cúi nhìn. Đó là bản sao hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, bên bán: Nguyễn Văn Sơn, “người giám hộ của Nguyễn Thị Vy”. Diện tích: hai trăm ba mươi mét vuông, kèm căn nhà cấp bốn. Giá: hai tỷ bảy trăm triệu đồng.
Hai tỷ bảy.
“Ba tháng trước, tôi tìm thấy cái này trong cặp ông,” thím nói, mắt vẫn nhìn chồng. “Tôi chụp lại, đem đi hỏi người quen làm ở phòng công chứng. Họ bảo giá đó là giá thật. Ông bảo với tôi là sáu trăm triệu, ông khai với tôi là sáu trăm triệu! Còn hai tỷ một đâu?”
“Bà đừng có…”
“Ông đi cá độ đúng không?” Giọng thím vỡ ra, the thé. “Cái nhà này mới xây năm kia, hết chín trăm triệu, ông bảo vay anh em. Anh em nào cho ông vay chín trăm triệu? Tôi chụp luôn sao kê ngân hàng của ông, mười một lần chuyển tiền cho một cái số lạ. Cái số đó là số anh Tư này!”
Anh Tư lùi thêm một bước. Người đeo khẩu trang đã lặng lẽ ra gần cửa.
Tôi ngồi bất động, đầu ong ong. Căn nhà chú thím đang ở, căn nhà tôi đã quét dọn từng viên gạch suốt ba năm, được xây bằng tiền bán đất của bố mẹ tôi. Hóa ra tôi vẫn cầm chổi quét chính nền nhà của mình.
“Thím,” tôi nghe giọng mình khô khốc, “sao thím không nói với cháu?”
Thím quay sang tôi. Lần đầu tiên trong ba năm, thím nhìn thẳng vào mắt tôi.
“Tao không thương mày,” thím nói, thẳng thừng đến lạ. “Tao cũng đã đối xử với mày không ra gì, tao biết. Nhưng tao không ngu. Tao biết thằng chồng tao đi vào con đường này thì sớm muộn cũng ra tòa, ra tù. Tao giữ mấy cái giấy này để một ngày nào đó, nếu chuyện vỡ ra, tao còn có cái để chứng minh tao không biết gì, và để thằng Tí không phải lớn lên với tiếng bố nó là kẻ l:ừa đ:ảo.” Giọng thím nghẹn lại. “Giờ vỡ rồi.”
“Bà phản tôi!” Chú gầm lên, vung tay về phía thím.
Tôi chưa kịp đứng dậy thì một giọng khác vang lên từ cổng.
“Dừng tay.”
Bác Khoa đứng ở ngưỡng cửa. Ông chừng sáu mươi tuổi, gầy, tóc bạc gần hết, mặc áo sơ mi nhàu như vừa chạy ra khỏi nhà. Ông chống một tay vào khung cổng, thở dốc, nhưng ánh mắt thì sáng và tỉnh táo. Phía sau ông là hai anh công an khu vực mặc quân phục.
“Tôi là luật sư Trần Văn Khoa,” ông nói, giọng không lớn mà cả phòng im phăng phắc. “Tôi là người giám sát việc giám hộ do anh Hải, bố cháu Vy, chỉ định bằng văn bản có công chứng. Anh Sơn, anh biết chuyện này chứ?”
Chú Sơn lắp bắp. “Tôi… tôi không biết…”
“Anh biết.” Bác Khoa bước vào, đưa tay về phía tôi. “Vy, cháu cho bác xem cái phong bì.”
Tôi lấy phong bì từ trong áo, tay run run đưa ông. Ông mở ra, rút tờ giấy ngả vàng, đọc lướt, rồi gật đầu rất chậm và đưa tờ giấy cho một anh công an.
“Đây là văn bản chỉ định người giám sát việc giám hộ, do bố mẹ cháu lập từ bốn năm trước. Trong đó nói rõ: nếu hai vợ chồng có mệnh hệ gì, người giám hộ theo luật là anh Sơn, nhưng mọi giao dịch liên quan đến nhà đất của cháu Vy phải được người giám sát đồng ý bằng văn bản, và hằng năm phải lập báo cáo quản lý tài sản. Anh Sơn, ba năm qua, anh gửi cho tôi bao nhiêu bản báo cáo?”
Chú Sơn nuốt nước bọt. “Tôi… tôi có gửi…”
“Không một bản nào,” bác Khoa nói. “Vì tôi nhận được tin báo từ anh, ba tuần sau đ:ám t:ang, rằng cháu Vy đã sang nước ngoài sống với họ hàng bên ngoại và gia đình đã chuyển đi. Tôi tin anh. Cũng đúng lúc đó, tôi phát hiện bệnh, sang Úc điều trị suốt hai năm rưỡi, mới về nước tháng trước.” Ông nhìn tôi, ánh mắt đau đáu. “Bác xin lỗi cháu, Vy. Bác về, bác đã tìm cháu, nhưng chú cháu đã dọn nhà cũ sang địa chỉ khác. Cho đến tối nay, khi có số lạ gọi vào máy bác.”
Tôi cắn môi, nước mắt rơi xuống bàn tay vẫn còn vệt mực đỏ nhòe.
“Vậy là bán đất không được người giám sát đồng ý, giá khai thấp hơn giá thật, và đang chuẩn bị cho đứa trẻ ký giấy từ chối di sản để hợp thức hóa,” một anh công an nói, giọng bình tĩnh, vừa ghi vừa nhìn anh Tư. “Anh này là ai? Mời anh ở lại làm việc.”
Anh Tư giật mình, ôm cặp lùi về phía cửa, nhưng người đeo khẩu trang đã biến mất từ lúc nào. Anh công an thứ hai đã đứng chắn cửa.
“Tôi chỉ là người làm giấy tờ cho họ thôi!” Anh Tư lắp bắp. “Tôi không biết gì hết! Ông Sơn bảo với tôi con bé đồng ý!”
“Mời anh về trụ sở,” anh công an nói.
Chú Sơn đột ngột quỵ xuống ghế. Cái dáng cao to hay quát tháo suốt ba năm giờ co lại như một cái túi xì hơi. Chú ngẩng lên nhìn tôi, nhìn bác Khoa, rồi chợt gào lên:
“Tao làm thế là có lý do! Bố mày nợ! Tao nói thật, bố mày nợ một khoản rất lớn, tao phải bán đất để gánh! Hỏi ông luật sư này đi, hỏi xem vì sao anh Hải bắt tao ký cái giấy ba năm trước!”
Tôi ngơ ngác nhìn bác Khoa. Một giây, chỉ một giây, tôi thấy nét mặt ông thay đổi, như người vừa bị chạm vào chỗ đau nhất. Rồi ông lấy lại vẻ bình tĩnh, quay sang tôi.
“Vy, chuyện đó bác sẽ nói với cháu sau,” ông nói, giọng thấp xuống. “Giờ cháu cần làm một việc quan trọng hơn.”
Tôi gật đầu, dù lòng nặng trĩu.
Đêm đó trở thành đêm dài nhất đời tôi. Hai anh công an lập biên bản, thu đoạn ghi âm trong máy tôi, thu cả xấp giấy của thím Hạnh làm chứng cứ. Thím ngồi lặng lẽ bên cạnh, ký từng trang, không nói thêm một câu bào chữa. Chú Sơn bị yêu cầu đến trụ sở sáng hôm sau để làm việc, anh Tư bị giữ lại ngay trong đêm.
Khi tất cả đã ra về, thím Hạnh đứng dậy, bế thằng Tí đang ngủ gục trong buồng ra, quấn chăn cho nó.
“Thím về nhà ngoại với thằng Tí,” thím nói với tôi, không nhìn lên. “Nhà này… mày muốn xử sao thì xử, thím không giành.”
“Thím,” tôi gọi. Thím dừng lại ở cửa. “Cháu không tha cho chú. Nhưng cháu cảm ơn thím vì mấy tờ giấy.”
Thím không quay lại, chỉ gật đầu một cái rất khẽ, rồi khuất sau cánh cổng.
Tôi đứng giữa căn nhà vắng, mâm cơm đã được dọn, sàn sạch bóng, mùi canh nguội vẫn còn quanh quẩn. Bác Khoa đặt tay lên vai tôi.
“Vy, về nhà bác ngủ. Bác gái đã dọn phòng cho cháu rồi.”
Tôi lắc đầu, rồi lại gật. Tôi lấy ba lô, chiếc ba lô cũ đã đi theo tôi suốt ba năm, nhét vào đó vài bộ quần áo, quyển sổ học bạ, và tấm ảnh bố mẹ tôi mà thím từng bảo tôi đừng bày ra kẻo “xui nhà”. Lúc bước qua cổng, tôi không ngoái lại.
Đồng hồ treo tường nhà bác Khoa điểm mười hai giờ đúng, tôi chính thức tròn mười tám tuổi. Bà Khoa nấu cho tôi một bát mì nóng, ngồi nhìn tôi ăn mà không nói gì, chỉ lặng lẽ lau nước mắt bằng tay áo. Đó là bữa ăn đầu tiên sau ba năm tôi được ăn mà không phải rửa bát.
Tám giờ sáng hôm sau, tôi và bác Khoa đến chi nhánh ngân hàng. Ông giải thích trên đường đi: chiếc chìa khóa nhỏ trong phong bì là chìa của một két sắt ký gửi mà bố mẹ tôi thuê từ năm năm trước, đứng tên tôi, chỉ được mở khi tôi đủ mười tám tuổi hoặc khi có người giám sát đi cùng. Hôm qua ông đã gọi cho giám đốc chi nhánh.
Nhân viên dẫn chúng tôi vào một căn phòng nhỏ, lạnh và yên tĩnh. Cô ấy đặt chiếc hộp kim loại lên bàn, lùi ra, đóng cửa. Tôi tra chìa vào ổ. Tiếng xoay khẽ vang lên trong căn phòng im lặng, và nắp két bật mở.
Bên trong có ba thứ. Một cuốn sổ đỏ còn mới, đứng tên bố tôi, Nguyễn Văn Hải. Một bản di chúc viết tay, nét chữ run run của bố, tôi nhận ra ngay, kèm dấu công chứng. Và dưới cùng là một tập hồ sơ mỏng kẹp bìa xanh, dòng chữ đánh máy ở trang đầu: “HỢP ĐỒNG VAY TIỀN”.
Tôi mở ra. Bên vay: Nguyễn Văn Hải. Số tiền: một tỷ hai trăm triệu đồng. Chữ ký bố tôi nằm ở cuối trang, mực còn đậm. Ngày ký cách ngày bố mẹ tôi m:ất đúng hai tháng.
Tôi kéo mắt lên dòng “Bên cho vay”.
Ở đó, in rõ từng chữ: Trần Văn Khoa.
Tôi ngẩng lên. Bác Khoa đứng cạnh tôi, hai bàn tay siết chặt vào nhau, gương mặt tái xanh như người đã đợi giây phút này từ rất lâu.
“Vy,” ông nói, giọng khàn đặc. “Bác đã định nói với cháu từ tối qua. Cháu cho bác nói hết rồi hãy quyết định có tin bác nữa không.”
Tôi không đáp. Tôi nhìn cái tên in trên trang giấy, rồi nhìn đôi bàn tay đang siết vào nhau của người đàn ông tôi mới gặp được một đêm. Ba năm ở nhà chú Sơn đã dạy tôi một điều: người nào tử tế quá mức thì phải hỏi vì sao.
“Bác cho bố cháu vay một tỷ hai,” tôi nói, giọng đều đến mức chính tôi cũng thấy lạ. “Rồi bác thành người giám sát tài sản của cháu. Chú Sơn bảo bố cháu n:ợ ngập đầu. Hóa ra là n:ợ bác.”
“Đúng thế.” Bác Khoa không né. “Cháu nghĩ bác vừa là chủ n:ợ, vừa cầm quyền giám sát, thì chẳng còn gì đáng tin. Bác không trách cháu. Nhưng cháu lật trang sau đi.”
Tôi lật. Dưới hợp đồng vay còn kẹp thêm hai thứ nữa mà nãy giờ tôi chưa kịp nhìn tới: một tờ giấy viết tay và một phong thư gấp ba.
Tờ giấy đề: “GIẤY NHẬN N:Ợ”.
“Tôi, Nguyễn Văn Sơn, xác nhận đã nhận của anh trai tôi là Nguyễn Văn Hải số t:iền một tỷ hai trăm triệu đồng để trả các khoản n:ợ c:á đ:ộ của bản thân. Tôi cam kết từ nay không c:á đ:ộ nữa, không động vào bất cứ tài sản nào của anh Hải và gia đình anh. Nếu vi phạm, tôi chịu hoàn toàn trách nhiệm trước pháp luật.”
Cuối tờ giấy là chữ ký của chú Sơn, và một dấu vân tay bằng mực đỏ.
Cũng thứ mực đỏ ấy. Đêm qua, nó suýt nữa đã nằm trên ngón tay cái của tôi.
“Khoản n:ợ này không phải của bố cháu,” bác Khoa nói khẽ. “Là của chú cháu. Bố cháu chỉ đứng ra vay để cứu em.”
Ông kể, và tôi đứng nghe, tay vẫn giữ tờ giấy đến mức mép giấy nhăn lại.
Bốn năm trước, lần đầu bố tôi phát hiện chú Sơn dính vào c:á đ:ộ. Hôm ấy bố trả giúp hai trăm triệu, và cũng hôm ấy bố tìm đến bác Khoa, lập văn bản chỉ định người giám sát việc giám hộ. Bố nói: “Nó là em tôi, tôi không bỏ nó được. Nhưng nếu tôi có mệnh hệ gì thì tôi không dám tin nó giữ nổi tài sản của con bé.”
Hơn ba năm trước, chủ đường dây c:á đ:ộ tìm đến tận nhà chú, đòi một tỷ hai. Chúng dọa đốt nhà, dọa đến trường tìm thằng Tí. Chú Sơn quỳ trước mặt bố tôi, khóc, thề độc. Bố đi vay bác Khoa, trả sạch, rồi bắt chú ký tờ giấy nhận n:ợ kia. Bố không hề đòi chú trả một đồng. Bố chỉ cất tờ giấy đi, như cất một lời hứa.
“Hai tháng sau, bố mẹ cháu m:ất,” bác Khoa nói, giọng chùng xuống. “Bác đến đám t:ang, đứng ngoài sân. Bác định nhận cháu về nuôi. Nhưng chú cháu đứng giữa họ hàng, nói thẳng: Ông là chủ n:ợ của anh tôi, ông muốn giữ con bé để giữ cái đất chứ gì? Bác không có tư cách pháp lý nào trước người giám hộ theo luật. Bác lùi. Đó là điều bác hối hận nhất đời.”
Ông nhìn tôi.
“Hợp đồng vay này có một điều khoản. Nếu quá hạn không trả, bên cho vay được quyền yêu cầu xử lý thửa đất. Nghĩa là đúng như cháu nghĩ, bác có thể lấy đất. Bác đưa cháu xem đủ để cháu tự quyết định bác là người thế nào.”
Tôi cúi xuống phong thư. Ngoài bì ghi bốn chữ bằng nét bút run run quen thuộc: “Gửi con gái Vy.”
Tôi mở ra, đọc trong căn phòng lạnh, nghe tiếng máy lạnh rì rì.
“Vy con. Nếu con đọc thư này, nghĩa là bố đã sai một điều: bố tin chú Sơn sẽ thay đổi. Bố xin lỗi con trước, vì bất cứ điều gì chú đã làm với con. Đất này là của con, không phải để trả nợ cho ai. Khoản bố vay bác Khoa là tiền thật của một người tốt, con cứ đòi lại từ chú Sơn, đòi được bao nhiêu thì trả bác bấy nhiêu, đàng hoàng. Đừng để giận chú làm con thành người khác. Và đừng sợ lớn lên, con gái. Bố mẹ ở ngay đây, trong từng việc con làm.”
Nước mắt tôi rơi lên tờ giấy, loang một vệt nhỏ ngay chữ “con gái”. Bác Khoa quay đi, đưa tay áo lau mặt.
Tôi gấp thư lại, cất vào túi áo, rồi ngẩng lên.
“Cháu sẽ trả bác từng đồng,” tôi nói. “Nhưng không phải bằng đất của bố mẹ cháu. Cháu sẽ đòi lại từ người đã tiêu số tiền ấy.”
Bác Khoa nhìn tôi rất lâu, rồi gật. “Giống hệt bố cháu.”
Chín giờ sáng, chúng tôi có mặt ở trụ sở công an. Chú Sơn đã ngồi đó từ sớm, mắt thâm quầng, bộ sơ mi hôm qua vẫn chưa kịp thay. Điều tra viên là một người đàn ông trung niên, giọng chậm rãi, kéo tờ giấy trước mặt ông ta về phía chúng tôi.
“Có hai chuyện,” ông nói. “Thứ nhất, chúng tôi tra hồ sơ đất. Cùng một số thửa mà có hai quyển sổ đỏ. Quyển trong két của cháu là bản gốc. Quyển kia là bản cấp lại, dựa trên đơn khai mất và giấy xác nhận giả. Người làm giấy tờ là anh Tư.”
Tôi nín thở.
“Thứ hai,” ông tiếp, “anh Tư tên thật là Lâm. Trong đêm qua anh ta đã khai. Anh ta chính là người điều hành đường dây c:á đ:ộ mà ông Sơn nợ từ trước.”
Căn phòng quay một vòng trước mắt tôi. Chính là hắn. Một tỷ hai bố tôi vay để trả, đã chảy vào túi đúng người đàn ông tối qua ngồi trong nhà chú, cười niềm nở, đẩy hộp mực đỏ về phía tôi.
“Sau khi anh tôi m:ất,” chú Sơn lên tiếng, giọng khàn đặc, “tôi… tôi lại quay lại. Hắn rủ. Tôi nợ hắn thêm, mỗi tháng thêm một ít, đến khi không gượng nổi. Hắn bảo: có mảnh đất bên quê, đứa nhỏ chưa đủ tuổi, bán đất trừ n:ợ là xong.”
“Là chú nghĩ ra,” điều tra viên ngắt lời, “hay là anh ta?”
Chú Sơn im lặng. Rồi chú ngẩng lên nhìn tôi, và đó là lần đầu tiên tôi thấy mắt chú không có sự khinh bỉ.
“Mày cho chú nói một câu.”
“Chú nói đi.”
“Anh Hải cứu chú hai lần. Hai lần anh ấy không mắng chú một câu. Anh ấy m:ất, chú nghĩ…” Giọng chú vỡ ra. “Chú nghĩ mình có thể coi như anh ấy để lại cái nhà đó cho chú. Chú tự dối mình ba năm.”
“Chú dối mình, nhưng chú không dối cháu được,” tôi nói. Tôi rút tờ giấy gấp tư trong túi ra, tờ giấy tôi viết lúc ba giờ sáng trên giường nhà bác Khoa, khi không tài nào ngủ nổi. “Chú nói chú nuôi cháu hơn một trăm triệu. Cháu tính rộng cho chú, một trăm năm mươi. Chú bán đất của cháu hai tỷ bảy. Chú còn thiếu cháu hai tỷ năm trăm năm mươi triệu, chưa tính một đồng t:iền công nào cho ba năm cháu nấu cơm, giặt đồ, quét dọn, trông Tí cho cả nhà chú.”
“Ba năm mày ăn của tao…”
“Cháu ăn cơm nguội,” tôi nói, và lạ là tôi không run. “Cháu ngủ cạnh nhà kho. Cháu sốt bốn mươi độ vẫn dậy rửa bát vì sợ chú gọi cháu là đồ ăn bám. Chú gọi cháu như thế ba năm, chú Sơn. Hôm nay cháu muốn chú nhìn tờ giấy này, xem ai mới là người ăn bám.”
Chú Sơn nhìn tờ giấy. Môi chú run lên, nhưng chú không cãi.
Bác Khoa đặt tờ giấy nhận n:ợ lên bàn, xoay về phía điều tra viên. “Đây là bản gốc. Chữ ký và dấu vân tay của anh Sơn, ba năm trước. Anh Hải bắt anh ký không phải để làm khó anh, mà để đến một ngày như hôm nay, con gái anh ấy có cái để chứng minh.”
Chú Sơn nhìn dấu vân tay mực đỏ của chính mình. Một lúc lâu sau, chú úp mặt vào hai bàn tay, vai chú run lên, tiếng nấc bật ra khản đục như tiếng một người đàn ông chưa từng khóc.
“Anh ấy biết hết,” chú lẩm bẩm. “Biết từ đầu là chú sẽ làm thế. Vậy mà anh ấy vẫn…” Chú không nói hết câu.
Điều tra viên gõ nhẹ đầu bút xuống bàn. “Ông Sơn, ông có nhận hành vi làm giả giấy tờ, chiếm đoạt tài sản của người được giám hộ, và ép buộc người chưa thành niên ký giấy tờ không?”
“Nhận,” chú nói, rất khẽ. “Tôi nhận hết.”
Chú quay sang tôi lần cuối. “Vy. Thằng Tí…”
“Cháu biết chú định nói gì,” tôi đáp. “Tí có bố hay không là do chú chọn, từ lúc chú cầm cây bút. Nhưng cháu sẽ không để Tí chịu thay chú một ngày nào. Cháu nói được, cháu làm được.”
Chú gật đầu. Chú không xin tôi rút đơn nữa.
Ra đến hành lang, tôi thấy thím Hạnh ngồi trên băng ghế gỗ, tay ôm thằng Tí đang mệt mỏi dụi mặt vào vai mẹ. Thím mặc chiếc áo cũ, đầu tóc buộc vội, trông già đi cả chục tuổi chỉ sau một đêm.
“Thím nộp đơn ly hôn sáng nay rồi,” thím nói trước khi tôi kịp mở miệng. “Thím không xin cháu tha cho chú. Thím chỉ muốn nói một câu thôi.”
Tôi đứng im.
“Thím xin lỗi.” Thím nói từng chữ, thẳng thắn như cách thím vẫn nói mọi thứ. “Thím biết lời xin lỗi không đáng một đồng. Ba năm, thím thấy cháu sốt mà vẫn rửa bát, thím biết chú cháu có chuyện, thím sợ nhà tan, sợ mất chỗ dựa, nên thím im. Cái sợ đó… nó biến thím thành người mà bây giờ thím không dám nhìn vào gương.”
Tôi nhìn thím một lúc lâu. Người phụ nữ này đã bảo tôi “cút ra khỏi bàn ăn”. Người phụ nữ này cũng là người giữ những tờ giấy cứu tôi.
“Thím không phải người tốt,” tôi nói. “Nhưng thím cũng không phải người xấu hoàn toàn. Cháu nhận lời xin lỗi của thím. Và cháu cảm ơn mấy tờ giấy một lần nữa.”
Thằng Tí ngẩng lên, đôi mắt sưng mọng. Nó thò tay vào túi quần, lôi ra một cây bút chì cụt, đưa cho tôi.
“Chị Vy ơi, hôm nọ chị làm rơi,” nó nói. “Em giữ giùm chị.”
Tôi nhận cây bút, cổ họng nghẹn lại. Nó là cây bút tôi dùng để làm bài trên cái bàn nhỏ cạnh nhà kho, thứ duy nhất của tôi mà thằng bé biết là của tôi. Tôi xoa đầu nó. “Cảm ơn em. Chị với em vẫn là chị em, nhé.”
Tôi không ngờ mình lại nói được câu đó. Nhưng khi nói ra, tôi thấy nhẹ đi một chút.
Vụ án kéo dài hơn bảy tháng. Điều tra, truy tố, rồi xét xử, từng bước một, chậm đến mức đôi lúc tôi tưởng nó sẽ không bao giờ kết thúc. Bác Khoa đi cùng tôi tới mọi buổi làm việc, ngồi cạnh tôi trên băng ghế hành lang, đưa tôi ly trà nóng mà chẳng nói gì. Bà Khoa thì mỗi tối đều để lại cho tôi một bát cơm nóng, và tôi dần học được cách ăn mà không phải ngoái lại nhìn mình có đang làm phiền ai không.
Tòa tuyên hợp đồng chuyển nhượng đất vô hiệu vì làm giả hồ sơ và không có sự đồng ý của người giám sát. Chú Sơn lĩnh tám năm t:ù về tội lừa đ:ảo chiếm đoạt tài sản và làm giả giấy tờ. Anh Tư, tên thật là Lâm, mười năm t:ù, cùng toàn bộ tài sản bị truy thu. Căn nhà chú thím xây bằng t:iền bán đất của bố mẹ tôi bị kê biên, đem bán đấu giá, cùng với phần truy thu từ đường dây của hắn, đủ để hoàn lại t:iền cho công ty mua đất, và bồi hoàn cho tôi phần thiệt hại.
Mảnh đất hai trăm ba mươi mét vuông trở về đúng tên tôi.
Tôi cầm số t:iền bồi hoàn đầu tiên đến nhà bác Khoa, đặt lên bàn một phong bì dày. Bác lắc đầu ngay từ đầu, bảo bác đã nói không cần.
“Bố cháu viết trong thư: trả đàng hoàng,” tôi nói. “Bác nhận gốc, không lấy lãi. Nếu bác không nhận, cháu sẽ ra phòng công chứng làm biên bản gửi tiền, ghi rõ bên nhận không chịu nhận.”
Bác Khoa nhìn tôi một lúc, rồi bật cười, lần đầu tiên tôi thấy ông cười thật. “Con bé này. Đúng là cháu của anh Hải.”
Ông nhận. Ông ký giấy xác nhận đã thanh toán đủ, rồi cầm tờ giấy nhìn rất lâu. “Ba năm,” ông nói khẽ. “Bác chờ ngày này lâu hơn bác tưởng.”
Mùa thu năm ấy, tôi nhập học ngành kế toán. Phòng ký túc xá nhỏ, ngăn nắp, có cửa sổ nhìn ra sân trường lá vàng. Buổi chiều đầu tiên, tôi ngồi một mình trên giường, đặt cây bút chì cụt của thằng Tí cạnh khung ảnh bố mẹ, và nhận ra mình đã ngủ đủ giấc suốt ba đêm liền.
Cuối tuần, bác Khoa chở tôi về quê.
Hàng rào tôn đã được dỡ. Mảnh đất mở ra trước mắt tôi, trống trải, nắng chiều đổ đầy lên nền đất đỏ, chỗ căn nhà cũ từng đứng. Tôi đứng đúng chỗ ngày xưa là cổng. Ở góc sân, giữa đống gạch vụn, một gốc ổi mẹ trồng từ hồi tôi còn nhỏ vẫn sống sót, nhú lên mấy chiếc lá non xanh mướt.
“Cháu tính xây lại một căn cấp bốn nhỏ thôi,” tôi nói với bác Khoa. “Giữ gốc ổi này. Phần đất còn lại, cháu chưa nghĩ ra, từ từ cháu tính.”
“Cháu cứ từ từ,” bác đáp. “Có bác ở đây.”
Tôi gật. Gió thổi qua mảnh đất, mang theo mùi cỏ khô và khói bếp của nhà ai đó xa xa. Tôi đặt tay lên thân cây ổi, nhớ lại bàn tay mẹ tưới nước mỗi chiều, nhớ tiếng bố gọi: “Vy ơi, ăn cơm.”
Ba năm, tôi nghe đúng ba chữ “đồ ăn bám” mỗi ngày. Tôi đã tin, có lúc, rằng mình thật sự không có gì ngoài lòng thương hại của người khác. Hóa ra suốt ba năm ấy, người sống nhờ công sức, nhờ tiền của bố mẹ tôi, nhờ cả cây bút ký hộ của người anh đã khuất, lại chính là kẻ gọi tôi như thế.
Còn tôi, tôi vẫn đứng đây. Trên mảnh đất của chính mình.
-HẾT-