Mưa lất phất rơi trên mái bạt, vậy mà tôi nghe rõ từng bước chân của người phụ nữ áo mưa xanh. Cô Hạnh, bán cá ở sạp số bảy, đi chậm rãi như người đã quyết định chuyện này từ lâu. Đám đông tự động rẽ ra một lối hẹp. Chị Hoa cúi xuống định nhặt tờ giấy dưới nền gạch, nhưng tôi nhanh hơn. Tôi nhặt lên, phủi nước, gấp lại mà không đọc thêm một chữ, rồi đặt vào bàn tay đang run của thằng Tí.
“Đứng lên đi con. Không ai bắt con q:uỳ nữa.”
Tí không đứng. Nó nhìn chị Hoa, như thể đang chờ một lời cho phép.
“Cô Hạnh,” chị Hoa lên tiếng, giọng khản hẳn đi, “chuyện này để lát tôi nói riêng với cô.”
“Riêng cái gì mà riêng,” cô Hạnh kéo mũ áo mưa xuống, nhìn thẳng vào chị. “Thằng bé q:uỳ giữa chợ thì tôi nói giữa chợ.”
Cô quay ra phía đám đông, giơ cao chiếc đ:iện th:oại.
“Nãy giờ mọi người đứng đây, ai thấy tận mắt thằng bé lấy cá thì giơ tay lên. Có không?”
Không ai giơ tay. Anh thanh niên cầm đ:iện th:oại lúc nãy khẽ hạ cánh tay xuống.
“Không ai thấy. Vậy mà ai cũng dám mở miệng,” cô Hạnh nói. “Hai tuần trước, gần mười giờ đêm, chợ vãn. Tôi đang rửa mẹt thì thấy thằng Tí đứng ngoài hiên quán cơm, xin chị Hoa cho mua chịu hai vỉ thuốc hạ sốt cho bà ngoại nó. Chị Hoa quát, bảo quán cơm không phải hiệu thuốc, đuổi nó đi.”
Tôi quay sang nhìn chị Hoa. Chị đứng im, hai tay siết chặt vào tạp dề.
“Nhưng nó vừa đi khuất thì chị chạy theo,” cô Hạnh nói tiếp, giọng chùng xuống. “Tôi thấy hết. Chị nhét vào tay nó hai trăm nghìn, dặn: ‘Cầm lấy mua thuốc cho bà. Đừng nói với ai là tao cho. Tao không thích người ta biết.’”
Cả chợ lặng đi. Một bà bán hành khẽ buông tiếng “trời”.
“Hôm sau thằng bé mang tờ giấy này ra sạp tôi,” cô Hạnh chỉ vào tờ giấy trong tay Tí. “Nó hỏi chữ ‘n:ợ’ viết thế nào cho đúng. Tôi bảo chị Hoa có bắt con trả đâu. Nó nói bà ngoại dạy, mượn thì phải trả, không trả là không biết điều.”
Tôi nhìn thằng Tí. Nó cúi đầu, các khớp ngón tay nắm tờ giấy trắng bệch. Lúc nãy tôi tưởng nó run vì sợ. Giờ tôi mới hiểu, nó run vì đang nuốt một lời hứa.
Tôi nhớ hồi nó chín tuổi, lần đầu đứng trước sạp tôi, mắt dán vào bó rau muống héo tôi định vứt. Tôi bảo cầm đi. Nó không cầm, nó hỏi: “Con quét chợ giúp cô được không?” Từ hôm ấy tôi biết, thằng bé này thà làm không công còn hơn nhận không của ai.
Tôi ngồi xuống ngang tầm mắt nó.
“Tí, lúc nãy chỉ cần con nói một câu là xong. Sao con không nói?”
“Con hứa với cô Hoa rồi ạ,” nó đáp, mắt đỏ hoe. “Cô bảo cô không thích ai biết cô tốt. Con nói ra thì cô mất lòng… Con hứa rồi thì phải giữ. Con không lấy cá. Con chỉ ngồi đợi cô ra quán, để lén đưa cô cái giấy với số t:iền con để dành.”
Tôi gom nắm t:iền lẻ rơi dưới đất, vuốt thẳng từng tờ. Hai nghìn, năm nghìn, mười nghìn, bó bằng cuộn dây thun nó vẫn dùng buộc chai nhựa. Tôi đếm: năm mươi tám nghìn. Hai tuần dậy từ bốn giờ sáng nhặt chai lọ, được năm mươi tám nghìn.
Chị Hoa đưa hai tay che miệng. Chị Hoa mà tôi biết bảy năm nay, quát nhân viên, cãi giá, chưa từng nhường ai nửa lời. Giờ chị đứng đó, vai rúm lại như bao gạo bị rút cạn.
“Tí…” chị nói, nhưng không thành tiếng.
Tôi đứng dậy. Cơn giận trong tôi lúc này lạnh chứ không nóng.
“Chuyện t:iền thì rõ rồi,” tôi nói. “Còn hai con cá, ai lấy? Chị Hạnh, chị bật cái chị đang cầm lên đi.”
“Tôi cũng định thế.” Cô Hạnh nhìn chị Hoa, ánh mắt không giận, chỉ nặng. “Tháng trước sạp tôi mất cá liên tục, tôi lắp một cái camera nhỏ trên giá treo. Nó chiếu qua cả mẹt của chị Hoa. Tuần trước tôi đã nói với chị là cá trên mẹt chị hao mỗi sáng hai con, chị coi chừng người nhà. Chị bảo tôi nhìn nhầm.”
Cô thở ra, giọng nghẹn lại.
“Sáng nay thấy thằng Tí ngồi đợi từ năm rưỡi, tôi dặn nó cứ chờ chị Hoa tới thì đưa tờ giấy. Chị biết chuyện hai con cá, chị sẽ không mắng nó đâu. Tôi nói thế thôi, ai ngờ…”
Cô bấm vào màn hình. Đoạn video chạy, hình hơi mờ vì mưa nhưng đủ rõ. Góc trên có dòng giờ: 5:31. Một bóng nhỏ ngồi thu lu sau thùng xốp. Thằng Tí. Nó ngồi đó, hai tay ôm đầu gối, không nhúc nhích.
Giờ nhảy tới 5:46. Một người đàn ông đi ngang, áo ba lỗ, dép lê, tóc rối. Ông ta nhìn trước nhìn sau, thò tay vào mẹt, nhấc hai con cá rô đồng nhét vào túi ni lông rồi đi thẳng ra phía đầu chợ. Giữa ông ta và thằng Tí cách nhau gần năm mét. Thằng bé không hề ngẩng đầu.
Chợ như bị ai chặn họng. Rồi bà bán đậu phụ kêu lên: “Ơ, đấy chẳng phải anh Thịnh, chồng chị Hoa à?”
Chị Hoa nhắm mắt lại.
“Tôi gửi cho chị Thu rồi, gửi cả ban quản lý chợ,” cô Hạnh nói. Điện thoại trong túi tôi rung lên một tiếng.
“Chị biết rõ ông ấy là ai,” tôi nói với chị Hoa, từng chữ rơi xuống nền gạch. “Chị biết trước khi chị kéo cổ áo thằng bé. Chị đứng đó, thấy mẹt cá thiếu hai con, chị nghĩ ngay đến chồng chị. Nhưng chị không dám nghĩ tiếp. Nên chị chọn đứa không ai bênh.”
“Không phải…” chị Hoa lắc đầu, nước mắt chảy ra. “Chị chỉ thấy cá mất, chị cuống…”
“Chị cuống mà bắt một đứa trẻ mười hai tuổi q:uỳ giữa chợ?”
Chị không đáp. Tôi cũng không cần chị đáp. Tôi quay sang anh thanh niên ở hàng đầu.
“Anh quay lúc nãy được bao nhiêu phút? Anh đăng ở đâu rồi?”
“Dạ… em đăng lên nhóm ‘Chợ Bà Hoa – tin nhanh’ rồi chị,” anh ta lúng túng. “Mấy nghìn người xem…”
“Vậy thì gỡ đi, đăng lại cho đúng. Đăng cả đoạn của chị Hạnh. Anh đã quay thì quay cho trọn.”
Anh ta cúi gằm, lấy đ:iện th:oại ra thao tác. Tôi tìm trong đám đông người đàn ông lúc nãy buông câu “không ai dạy mày làm người”. Ông đứng xa, tay đút túi quần.
“Bác ơi,” tôi gọi. “Lúc nãy bác hỏi ai dạy nó làm người. Bác nhìn nó đi. Một đứa trẻ giữ lời hứa với người đã giúp mình, ngay cả khi bị bắt q:uỳ giữa chợ. Bác nghĩ đứa nào mới thiếu người dạy?”
Ông ta quay mặt đi, nhưng tôi thấy tai ông đỏ lên.
Đúng lúc ấy có tiếng dép lê lẹp xẹp từ đầu chợ. Một người đàn ông bước tới, áo ba lỗ, tóc rối, mùi rượu nồng nặc từ cách ba bước. Chính là người trong đoạn video.
“Ơ, tụ tập làm gì đông thế? Hoa, quán không bán à?” anh Thịnh hỏi, đưa mắt nhìn quanh. Rồi anh ta thấy chiếc đ:iện th:oại trong tay cô Hạnh. Nụ cười tắt phụt.
“Cô quay cái gì đấy? Đưa đây!”
Anh ta lao tới. Chị Hoa bước chắn ngang trước mặt cô Hạnh nhanh đến mức tôi không kịp phản ứng.
“Anh đụng vào cô ấy thử xem.”
“Mày điên à?” anh Thịnh gằn giọng. “Cá nhà tao, tao lấy thì làm sao? Có ai bảo mất cắp đâu?”
“Cá nhà anh?” Giọng chị Hoa run, nhưng mỗi chữ đều rõ. “Hai con cá anh bán cho quán nhậu đầu chợ được bao nhiêu? Một trăm? Hai trăm? Tháng này tôi còn thiếu ba triệu t:iền sạp, anh biết không?”
“Thì sao…”
“Thì tôi vẫn đưa hai trăm nghìn cho thằng bé này cứu bà nó. Hai trăm nghìn tôi giấu trong hộp bánh quy, giấu anh, vì anh biết thì anh mang đi bạc hết!”
Tiếng xì xào nổ ra như pháo. Mặt anh Thịnh đỏ gay.
“Mày giấu t:iền tao? Mày dám giấu t:iền tao à?” Anh ta giơ tay lên. “Về nhà tao xử mày!”
Tôi không kịp nghĩ. Tôi chắn trước chị Hoa, giơ cao đ:iện th:oại của mình. Màn hình sáng, đèn đỏ ghi hình nhấp nháy.
“Anh hạ tay xuống. Đoạn video đã nằm trong máy tôi, trong máy chị Hạnh và ở ban quản lý chợ. Anh mà đ:ánh chị ấy thì hàng chục người ở đây là nhân chứng.”
Tay anh Thịnh khựng giữa không trung. Ông bán thịt to bè đứng dậy chống nạnh. Bà bán đậu phụ nhích lên. Rồi từng người một xếp thành bức tường quanh chúng tôi, im lặng. Anh Thịnh nhìn quanh, hạ tay xuống, lầm bầm chửi rồi quay lưng đi, dép lê kéo lê trên nền gạch như kẻ bị đuổi.
Anh ta vừa khuất, chị Hoa ngồi sụp xuống chiếc ghế nhựa. Chị khóc, không phải kiểu khóc của người bị bắt quả tang, mà kiểu của người vừa làm rơi một thứ rất quý mà không cách nào nhặt lại.
“Hồi nhỏ chị ở với bà,” chị nói, mắt không nhìn ai. “Ăn cơm chan nước rau. Có lần đi xin hàng xóm bát gạo, bị người ta cười. Từ đó chị sợ ai biết chị mềm lòng, chị cứ nghĩ cứng thì không ai bắt nạt mình. Vậy mà hôm nay chị lại thành đứa đi bắt nạt người ta.”
Chị ngẩng lên, nhìn thằng Tí.
“Tí… cô xin lỗi con.”
Nó đứng im, nắm tay tôi thật chặt.
Chị Hoa đứng dậy. Rồi trước mắt cả chợ, chị khuỵu xuống nền gạch ướt, ngay chỗ lúc nãy thằng bé q:uỳ. Tôi nghe tiếng đầu gối chị chạm xuống.
“Cô q:uỳ xuống xin lỗi con,” chị nói, tay chống nền gạch. “Không phải để con tha. Là vì cô phải q:uỳ.”
“Cô đứng lên đi ạ!” Tí cuống quýt chạy tới, kéo tay chị. “Bà dặn người lớn không q:uỳ trước con nít. Con không giận cô. Con chỉ sợ cô không cho con trả n:ợ thôi.”
Nó xòe bàn tay, nắm t:iền lẻ bó dây thun còn hơi ẩm.
“Năm mươi tám nghìn. Mỗi ngày con trả cô một ít. Cô nhận đi ạ.”
Chị Hoa nhìn nắm t:iền, rồi nhìn thằng bé, và bật cười trong nước mắt. Chị đón lấy bằng cả hai tay, cẩn thận như đón một thứ dễ vỡ.
“Cô nhận. Nhưng số còn lại, con đừng trả bằng t:iền nữa. Con đến quán cô ăn cơm mỗi sáng trước khi đi học. Cô trừ dần.”
“Dạ… nhưng mà…”
“Không nhưng gì hết,” chị lau mặt, giọng lại có chút cứng quen thuộc. “Cô không thích người ta cãi.”
Cả chợ bật ra một tiếng cười nhẹ, lẫn trong đó là mấy tiếng sụt sịt.
Ông Tâm, tổ trưởng ban quản lý chợ, chen vào lúc đó, tay còn cầm cái còi. Ông xem lại đoạn video ngay giữa đám đông, nghe cô Hạnh kể xong, mặt sầm xuống.
“Chị Hoa,” ông nói, “lúc nãy tôi nghe có người bảo chị đòi gọi c:ông an. Giờ chị gọi đi. Nhưng nhớ gọi cho đúng người cần bị lập biên bản.”
“Chiều nay vợ chồng tôi lên văn phòng ông,” chị Hoa đáp, không ngẩng đầu. “Biên bản gì tôi cũng nhận. Còn thằng bé thì ông đừng để ai nhắc lại chuyện này.”
Đám đông tản dần. Có người đi ngang đặt vào tay Tí một cái bánh bao, có người nhét hộp sữa. Thằng bé lúng túng không biết nhận hay từ chối, cuối cùng nhìn tôi cầu cứu. Tôi gật đầu.
Tôi cúi xuống xem đầu gối nó. Hai vết trầy rướm máu, dính cát. Tôi múc nước trong thùng, rửa sạch từng chút, rồi dán băng cá nhân lấy từ ngăn kéo sạp. Nó nhăn mặt mà không kêu một tiếng.
Điện thoại tôi lại rung. Bài đăng của anh thanh niên đã được sửa lại: đoạn thằng Tí q:uỳ bị gỡ, thay bằng đoạn camera của cô Hạnh, kèm một dòng xin lỗi. Lượt xem nhảy lên bốn mươi nghìn, bình luận cuộn như thác. Có người chửi chị Hoa, có người chửi chính những ai đã đứng quay. Có người hỏi cách gửi t:iền ủng hộ cậu bé. Tôi kéo xuống, đến một bình luận của tài khoản không ảnh đại diện, mới lập, ghi đúng một dòng: “Cho mình xin địa chỉ nhà cậu bé này được không? Mình là người nhà.”
Tôi nhìn dòng chữ ấy một lúc. Người nhà mà sao đợi đến bây giờ mới hỏi? Tôi không trả lời, khóa màn hình, nhét máy vào túi.
Chiều hôm đó, chị Hoa đóng cửa quán trước mười giờ, lần đầu tiên sau mười năm. Chị xách theo một túi gạo, một vỉ thuốc, hai con cá rô đồng mua mới ở sạp cô Hạnh. Cô Hạnh bảo cô trông cả hai sạp giúp, bảo chúng tôi cứ đi.
Xóm trọ cuối chợ lúc mưa ẩm và tối, dãy phòng hẹp nối nhau như những ngăn tủ. Tôi dắt Tí đi trước, chị Hoa theo sau, nhón chân tránh vũng nước. Đến cửa phòng thứ tư, Tí đột nhiên khựng lại.
Cánh cửa mở hé. Trước ngạch cửa có một đôi giày da đen cũ, mũi đã nứt, cỡ rất to.
“Cô Thu,” nó thì thào, “nhà con không có ai đi giày này.”
Tôi đẩy cửa. Gian phòng ba mét vuông chật ních đồ đạc. Bà Tư, bà ngoại thằng Tí, ngồi bệt ở mép giường, hai tay xoắn vào vạt áo, mặt xám như tro. Trên chiếc ghế nhựa duy nhất ngồi một người đàn ông gầy sạm, độ bốn mươi, áo sơ mi nhàu, túi vải đặt dưới chân. Trên tay ông là chiếc đ:iện th:oại cũ, màn hình vẫn dừng ở khoảnh khắc thằng Tí q:uỳ giữa chợ.
Ông đứng bật dậy. Môi ông run, ánh mắt không rời khuôn mặt đứa trẻ đang núp sau lưng tôi.
“Con… con là Tí phải không?”
“Chú là ai ạ?” Tí hỏi, giọng nhỏ xíu.
“Bố đây con.”
Tiếng chị Hoa hít vào đằng sau tôi nghe như tiếng kim đâm. Tôi quay sang bà Tư. Bà không dám ngẩng đầu, chỉ lẩm bẩm như tiếng thở:
“Bà xin lỗi cô Thu… Bà nói dối thằng bé suốt mười hai năm. Bà bảo bố nó ch:ết rồi, vì bà sợ nó biết bố nó đã đi đâu.”
Căn phòng ba mét vuông bỗng chật như một chiếc hộp bị đóng nắp. Tiếng mưa gõ lên mái tôn nghe rõ từng hạt. Thằng Tí nép sau lưng tôi, bàn tay nó lạnh ngắt trong tay tôi.
“Bố nó ch:ết rồi mà,” nó thì thào, mắt nhìn bà ngoại. “Bà bảo bố đi làm xa rồi ch:ết, bà bảo bố nằm ở nghĩa trang quê.”
“Bà nói dối con,” bà Tư nói, hai vai co lại. “Bố con không ch:ết. Bố con đi tù.”
Chữ “tù” rơi xuống nền phòng, nặng và khô. Chị Hoa đứng sau tôi, không dám thở mạnh. Người đàn ông đứng cạnh chiếc ghế nhựa cúi gằm, hai bàn tay siết vào nhau đến trắng bệch.
“Tôi tên Khoa,” ông nói, giọng khàn như người lâu ngày không nói chuyện. “Tôi ra trại cách đây một tuần. Tôi không dám về ngay. Tôi đứng ngoài đầu chợ ba hôm, nhìn con đi nhặt chai. Tôi không dám gọi.”
Tôi nhìn ông kỹ hơn. Đôi mắt ông, cái cằm nhọn, cả cái cách nghiêng đầu khi nhìn thằng bé, giống Tí đến lạ. Nhưng tôi vẫn đứng chắn phía trước, không nhúc nhích. Tôi là người ngoài, nhưng tôi biết một điều: người nào bước vào đời một đứa trẻ sau mười hai năm vắng mặt, thì phải chứng minh mình xứng đáng, chứ không phải được đón nhận ngay.
“Anh vào tù vì chuyện gì?” tôi hỏi.
Ông Khoa im lặng rất lâu. Bà Tư định mở miệng, ông giơ tay ngăn lại.
“Để con nói, mẹ.” Ông quay sang tôi. “Mười hai năm trước, vợ tôi sinh Tí xong thì bị băng huyết. Nhà không có tiền đóng viện phí, bệnh viện bắt đóng trước năm chục triệu mới truyền máu tiếp. Tôi đi vay. Không ai cho vay. Tôi làm thợ phụ, lương bữa đực bữa cái. Một người bạn rủ tôi chở hàng thuê một chuyến, bảo chỉ cần chở, không cần hỏi gì, được mười triệu.”
“Hàng gì?” tôi hỏi.
“Ma t:úy.” Ông nói rất khẽ. “Tôi không biết. Tôi đã nói thế ở tòa, nhưng không ai tin. Bên công an bắt tôi tại chốt, trong xe có hai bao.”
Ông ngừng lại, nuốt khan.
“Vợ tôi m:ất ngay đêm tôi bị bắt. Tôi không kịp nhìn mặt cô ấy lần cuối. Tôi bị tuyên mười hai năm tù, được giảm vì cải tạo tốt. Tôi nhờ mẹ tôi nuôi Tí và bảo mẹ cứ nói tôi đã m:ất. Tôi không muốn con tôi lớn lên với cái tên là con của một người tù.”
Tôi quay sang bà Tư. Bà khóc không thành tiếng, nước mắt chảy dọc những nếp nhăn như những đường nứt trên đất khô.
“Bà sợ,” bà nói. “Bà sợ nó đi học bị chúng bạn chê, sợ hàng xóm nói ra nói vào. Con nó nghèo mà còn thêm cái tiếng ấy, nó sống sao nổi. Bà nghĩ nói bố ch:ết thì nó chỉ tủi một lần. Ai ngờ nó… nó vẫn chịu cái tiếng không cha không mẹ giữa chợ hôm nay.”
Câu ấy làm chị Hoa òa khóc. Chị bịt miệng chạy ra hiên. Tôi nghe tiếng chị nấc ngoài mưa.
Tí vẫn đứng im. Rồi nó buông tay tôi, bước lên một bước nhỏ, nhìn ông Khoa từ đầu đến chân. Nhìn đôi giày nứt mũi, chiếc áo nhàu, đôi bàn tay chai sạn.
“Chú nói chú là bố con,” nó nói, chậm rãi từng chữ. “Vậy chú nói con nghe, mẹ con tên gì?”
“Mẹ con tên Nguyễn Thị Lụa,” ông Khoa đáp ngay, không nghĩ ngợi. “Cô ấy hay hát bài ru con về con cò. Cô ấy dặn nếu là con trai thì đặt tên Tí, để dễ nuôi.”
Tí quay sang bà Tư. Bà gật đầu, nức nở.
“Con lấy đồ nghề của bà ra đây.” Tí đột ngột nói. Nó chạy đến góc giường, lôi ra một chiếc hộp nhựa cũ. Bên trong có một bức ảnh đã mờ và một chiếc vòng bạc nhỏ xíu. “Bà bảo ảnh này là của mẹ với bố con. Bà bảo bố con ch:ết rồi, nhưng bà vẫn giữ ảnh. Có phải ảnh này không chú?”
Ông Khoa run run đón lấy. Tấm ảnh chụp một cặp vợ chồng trẻ, cô gái ôm bụng bầu, người đàn ông cười toe, răng khấp khểnh. Ông áp ngón tay lên mặt kính, giọng vỡ ra.
“Ảnh chụp ngày cưới chạy bầu. Hôm đó mưa, mình phải chụp dưới mái hiên.”
Tí nhìn ông, nhìn rất lâu. Rồi thằng bé nói điều làm tôi không kìm nổi nước mắt.
“Bà dạy con, mượn thì phải trả, không trả là không biết điều. Chú nợ con mười hai năm. Chú định trả con bằng gì?”
Căn phòng lặng đi. Ông Khoa quỳ xuống, đầu gối chạm nền xi măng lạnh, ngang tầm mắt đứa con.
“Chú không trả được hết,” ông nói. “Chú chỉ xin con cho chú trả dần. Mỗi ngày một ít, như con trả cô Hoa. Chú sẽ đi làm, sẽ nuôi con, sẽ chăm bà. Chú không xin con gọi chú là bố ngay. Chú chỉ xin được ở đây.”
Tí gật đầu một cái rất nhỏ. Rồi nó quay sang tôi, mắt đỏ hoe.
“Cô Thu, con có thể tin chú ấy không ạ?”
Tôi ngồi xuống cạnh nó. Tôi không muốn trả lời thay một đứa trẻ cho quyết định lớn nhất đời nó.
“Con không cần tin ngay,” tôi nói. “Tin là thứ phải được kiếm, từng ngày. Con cứ để chú ở đây, nhìn xem chú làm gì, rồi con quyết định.”
Nó gật đầu. Ông Khoa nhắm mắt, một giọt nước mắt rơi xuống nền gạch.
Tôi bước ra hiên, nơi chị Hoa đang đứng tựa cột, mặt ướt cả nước mưa lẫn nước mắt.
“Chị Hoa.”
“Chị không có quyền đứng đây,” chị nói mà không quay lại. “Chị là người bắt nó q:uỳ.”
“Chị có quyền,” tôi nói. “Vì chị là người xin lỗi bằng cách q:uỳ xuống, không phải người chỉ nói suông.”
Chị lau mặt, lặng lẽ đưa túi gạo cho bà Tư. “Bà cầm đi. Tôi không… tôi chỉ muốn góp chút.”
Bà Tư run run đón lấy, rồi nắm cả hai tay chị. “Cô Hoa, tôi cảm ơn cô hai trăm nghìn hôm ấy. Thuốc hạ sốt ấy cứu tôi một mạng.”
Chị Hoa lắc đầu, không nói được gì.
Chiều hôm ấy, chị Hoa theo ông Tâm lên văn phòng ban quản lý. Chuyện sau đó, tôi nghe lại từ cô Hạnh, vì chị Hoa không bao giờ muốn kể.
Anh Thịnh bị lập biên bản vì lấy cắp tài sản trong chợ, bị cấm bước chân vào khu chợ ba tháng, lại thêm khoản tiền nợ quán nhậu đầu chợ bị người ta đến đòi tận nhà. Trong buổi đối chất, chị Hoa bình tĩnh lạ thường. Chị đặt lên bàn một tờ giấy, mang tên hai người.
“Đơn ly hôn,” chị nói, “tôi nhờ cô Hạnh viết giúp hôm qua, vì tôi không biết chữ nhiều. Tôi sẽ nộp ở tòa. Anh Thịnh, anh ký hay không thì tôi vẫn nộp.”
Anh Thịnh sa sầm mặt, nhưng giữa mấy chục ánh mắt của người trong chợ, anh ta không dám làm gì. Một tháng sau, anh ta bỏ đi, nghe nói vào Nam làm thuê cho người quen. Quán cơm của chị Hoa từ đó có thêm một thứ chưa từng có: sổ ghi chép từng khoản thu chi, chữ viết nắn nót như học sinh.
Thằng Tí học thêm tối ở nhà cô Hạnh. Cô dạy nó viết chữ cho đẹp, vì nó còn lúng túng cả chữ “n:ợ” hôm nào. Sáng sáng nó ghé quán cơm chị Hoa ăn bát cháo nóng, lúc đầu chị còn cãi nhau với nó chuyện trừ nợ, sau chị bảo thôi, trừ hết rồi. Nó cãi, bảo nợ là nợ. Hai cô cháu, một cứng một cứng, ngồi cãi qua cãi lại giữa quán, khách ăn cũng phải bật cười.
Ông Khoa bắt đầu từ việc khuân vác ở chợ. Chiều ấy tôi nhờ ông chuyển giúp mấy bao rau củ về sạp, ông nhận không đòi tiền. Tôi trả công, ông lắc đầu.
“Cô Thu, cô cho tôi làm không công vài hôm,” ông nói. “Tôi muốn mọi người trong chợ thấy tôi làm, rồi mới biết tôi là người thế nào.”
Tôi hiểu. Một người từng bị gọi là tù nhân thì không thể xin một chỗ đứng. Chỉ có thể làm cho người ta thấy anh xứng đáng.
Ba tuần đầu, ông Khoa dậy từ bốn giờ, bốc vác ở chợ đầu mối rồi mới chạy về xóm trọ nấu cháo cho bà Tư, đưa Tí đi học. Có người trong chợ nhìn ông bằng ánh mắt dè chừng. Có người nói ra nói vào. Có bà bán hành đứng lại hỏi thẳng tôi: “Cô Thu, cô cho nó làm gần sạp cô à? Không sợ à?”
“Sợ chứ,” tôi đáp. “Nhưng tôi sợ nhất là chợ này lại dạy một đứa trẻ rằng có người sai một lần thì không bao giờ được sửa.”
Bà ấy im, rồi mua thêm cân rau của tôi, như một cách nói rằng bà đã nghĩ lại.
Một buổi chiều cuối tháng, tôi đang xếp rau thì thấy Tí ngồi trên ghế đẩu ngoài quán chị Hoa, hai chân đung đưa, bên cạnh là ông Khoa đang ngồi xổm sửa chiếc xe đạp cũ của nó. Ông không nói nhiều, nó cũng không. Chỉ có tiếng cờ-lê chạm vào ốc vít lách cách. Rồi tôi nghe nó hỏi, giọng rất nhỏ.
“Chú Khoa, hôm nào chú dẫn con ra nghĩa trang thăm mẹ được không?”
Ông Khoa dừng tay. Cái cờ-lê trượt xuống nền.
“Được con,” ông nói. “Chủ nhật này, bố dẫn con đi.”
Chữ “bố” bật ra rất tự nhiên, như thể nó đã chờ ở đầu lưỡi suốt mười hai năm. Tí cúi xuống, im lặng một lúc, rồi nói nhỏ như sợ ai nghe:
“Dạ.”
Chỉ một chữ thôi. Nhưng tôi thấy ông Khoa úp mặt vào bàn tay đầy dầu mỡ, vai run lên.
Còn một chuyện nữa. Tôi vẫn nhớ bình luận lạ trên bài đăng hôm ấy: “Cho mình xin địa chỉ nhà cậu bé này được không? Mình là người nhà.”
Tối hôm ấy, tôi hỏi thẳng ông Khoa. Ông lắc đầu, nói ông không dùng mạng xã hội, cả đời chưa lập một tài khoản. Tôi hỏi bà Tư. Bà cũng không biết. Cuối cùng tôi nhắn lại cho tài khoản kia một dòng ngắn, rằng nếu thật là người nhà thì xin hãy đến tận nơi, đừng hỏi qua màn hình.
Ba hôm sau, có một người phụ nữ khoảng năm mươi tuổi đến sạp tôi từ sáng sớm. Bà mặc áo bà ba màu nâu, đội nón lá, tay xách giỏ trái cây. Bà đứng nhìn dọc dãy sạp rất lâu rồi bước tới.
“Cho tôi hỏi, cậu bé tên Tí ở đâu?” bà nói, giọng miền Tây nhè nhẹ. “Tôi là dì ruột nó, em gái của mẹ nó. Nhà tôi ở Cần Thơ. Mười hai năm trước, tôi đi lấy chồng xa, mất liên lạc với chị Lụa. Khi biết tin chị mất, thằng bé đã được bà nội đem đi đâu không ai rõ. Tôi tìm suốt mười hai năm. Tôi chỉ nhìn thấy video ấy trên mạng mới nhận ra nó giống chị tôi đến từng đường nét.”
Tôi dẫn bà đến xóm trọ. Bà Tư mở cửa, nhìn bà một lúc, rồi bật khóc.
“Cô Mơ… trời ơi, cô Mơ. Tôi tưởng cô quên cháu rồi.”
“Tôi không quên,” bà nói, ôm lấy bà Tư. “Tôi chỉ không biết tìm ở đâu.”
Tối hôm đó, trong gian phòng chật hẹp, có thêm một người ngồi bên bàn cơm. Bốn người lớn, một đứa trẻ, chia nhau năm cái bát. Ông Khoa nhường phần cá cho Tí. Dì Mơ lặng lẽ gắp thêm rau cho bà Tư. Tôi đứng ở cửa nhìn vào, không dám bước tới sợ làm vỡ khoảnh khắc ấy.
Cuối mùa mưa, ông Khoa xin được việc làm ở một xưởng gỗ ngoài thị trấn, ban đầu chỉ làm phụ, sau được nhận chính thức. Dì Mơ đề nghị cả nhà chuyển về Cần Thơ ở cùng, nhưng Tí lắc đầu.
“Con muốn ở lại đây,” nó nói. “Ở đây có cô Thu, cô Hạnh, cô Hoa. Hồi trước con bị bắt q:uỳ, giờ con muốn ở lại để người ta nhìn thấy con lớn lên.”
Dì Mơ im lặng, rồi mỉm cười, bảo mỗi dịp nghỉ hè bà sẽ đón nó về chơi. Ông Khoa thuê được căn phòng rộng hơn hai mét vuông, có cửa sổ nhìn ra hàng cau.
Đến cuối năm, chợ có tin lạ. Trong buổi họp ban quản lý, bà con đề xuất lập một quỹ nhỏ giúp trẻ nhặt ve chai, trẻ mồ côi trong khu vực đi học. Ông Tâm đọc đề nghị, hỏi ai đứng ra giữ sổ. Chị Hoa giơ tay trước tiên.
“Tôi giữ,” chị nói, giọng vẫn cứng như xưa. “Từng đồng tôi ghi rõ, ai muốn kiểm thì kiểm. Tôi từng làm sai một lần ở cái chợ này. Tôi muốn dùng nó để làm đúng nhiều lần.”
Không ai phản đối. Cô Hạnh bảo, quỹ lấy tên là “Quỹ năm mươi tám nghìn”, theo đúng số tiền thằng Tí cầm trong tay hôm ấy. Cái tên nghe ngồ ngộ, nhưng cả chợ đều nhớ.
Hôm khai quỹ, Tí đứng giữa chợ, mặc áo sơ mi trắng cô Hạnh may cho, tay cầm tờ giấy nhỏ gấp tư. Nó mở ra, đọc từng chữ, giọng run nhưng rõ.
“Con xin cảm ơn mọi người. Hôm ấy con bị q:uỳ ở chỗ này. Hôm nay con đứng ở chỗ này, và con thấy rất nhiều người đang đứng cạnh con. Ngày xưa con tưởng không ai dạy con làm người. Bây giờ con biết, cả chợ đã dạy con.”
Nó cúi đầu thật sâu. Cả chợ vỗ tay. Chị Hoa quay đi lau mắt, còn người đàn ông từng hỏi “không ai dạy mày làm người à” đứng ở cuối đám đông, mũ kéo thấp, im lặng bước tới, bỏ vào thùng quỹ một tờ năm trăm nghìn. Ông không nói một lời nào. Nhưng khi đi ngang qua chỗ tôi, ông gật đầu rất nhẹ.
Tôi nhìn lên trời. Mưa đã tạnh từ lúc nào, nắng xiên qua mái bạt, rọi lên nền gạch chỗ ngày ấy thằng bé q:uỳ, giờ khô ráo sạch sẽ, đặt một chiếc ghế nhựa nhỏ cho những đứa trẻ nhặt ve chai tới ngồi nghỉ. Trên lưng ghế, chị Hoa dán một mảnh giấy bằng bút bi nguệch ngoạc:
“Ai đói thì ngồi. Ai mệt thì ngồi. Không ai phải q:uỳ.”
-HẾT-