Mảnh giấy trong tay tôi ướt một góc vì nước mưa hắt vào. Nét chữ run rẩy, nghiêng ngả, như của người viết khi đã không còn đủ sức cầm bút.
Thằng anh nhìn tôi, môi mím chặt. Em nó vẫn bám vào vạt áo anh, khóc thút thít, người nóng ran.
“Cô… cô trả giấy cho cháu được không?” cậu thì thào.
“Cô chưa đọc hết. Cháu tên gì?”
“Dạ… Khôi. Em cháu tên Bi.”
“Ai viết tờ giấy này?”
Khôi cắn môi một lúc lâu.
“Mẹ cháu.”
Bà Sáu đứng sau lưng thằng bé, tay còn nắm chặt cổ áo cậu, nhưng không còn kéo nữa. Bà buông ra lúc nào tôi không biết. Gương mặt bà lúc nãy đỏ gay vì giận, giờ tái đi, đôi mắt cứ dán vào chữ “chị Hà”.
“Số điện thoại này,” bà nói, giọng khàn khàn, “ai cho tụi bây?”
“Mẹ cháu viết trước khi mẹ mất,” Khôi đáp. “Chị Hà là y tá chăm mẹ ở viện. Chị bảo nếu có chuyện gì thì cứ gọi.”
Bà Sáu im lặng. Cả quán đang nhìn bà, không ai hiểu vì sao người đàn bà vừa quát tháo giữa quán lại đột ngột nghẹn lời.
Tôi nhìn bà thật kỹ. Có gì đó không khớp. Một người chỉ ghét kẻ ăn xin sẽ không có cái nhìn ấy. Đó là cái nhìn của người vừa bị bắt quả tang làm một việc mình không muốn ai thấy.
“Dì Sáu,” tôi nói khẽ, “lúc nãy dì bảo hôm qua tụi nó cũng đến. Dì nhớ mặt thật không, hay còn chuyện gì dì chưa nói?”
“Chị đừng hỏi nữa.”
“Hai đứa trẻ đang sốt, đứng giữa mưa. Tôi hỏi vài câu thì có sao?”
Bà Sáu liếc nhanh về phía góc quán, rồi lại quay đi, nhanh đến mức nếu không để ý thì tôi đã bỏ sót. Nhưng tôi kịp thấy.
Ở bàn cuối cùng sát vách, có một người đàn ông đội mũ lưỡi trai đen, áo mưa còn nhỏ nước, ngồi trước một tô cơm gần như chưa đụng đũa. Anh ta không nhìn hai đứa trẻ. Anh ta nhìn điện thoại, nhưng ống kính điện thoại đang hướng về phía chúng tôi.
Tôi bất giác ngồi xuống ngang tầm mắt Khôi.
“Cháu có quen người đàn ông đội mũ ở góc kia không?”
Khôi không quay đầu. Cậu chỉ siết chặt vai em, người cứng đờ như một cái que.
“Dạ… không.”
“Cháu nói thật với cô đi.”
“Dạ… cháu không biết.”
Giọng cậu run lên ở chữ cuối. Thằng em Bi ngẩng đầu, nhìn về phía góc quán, rồi vội úp mặt vào áo anh, khóc to hơn.
Tôi hiểu rồi. Không cần ai nói.
Tôi đứng thẳng dậy, bước tới quầy, đặt xuống một tờ năm trăm nghìn.
“Dì lấy tiền này. Tính cho hai đứa hai phần cơm, một phần cháo, và cho tôi mượn cái ghế phía trong, chỗ khuất gió.”
“Chị…”
“Dì đừng đuổi nữa. Có chuyện gì tôi chịu.”
Bà Sáu nhìn tờ tiền, rồi nhìn tôi. Một lúc sau bà nói rất nhỏ, gần như không mở miệng:
“Vô trong bếp. Cả hai đứa. Đi cửa hông.”
Tôi nhìn bà ngạc nhiên. Bà quay đi, tay lau vào tạp dề, rồi lại quát lên cho cả quán nghe:
“Hai đứa này đi theo tôi! Rửa chén trừ tiền cơm! Khỏi cần ai đứng ra làm người tốt!”
Quán lại rì rầm. Có người cười khẩy. Người đàn ông đội mũ liếc lên một cái, rồi cúi xuống điện thoại, ngón tay gõ lia lịa.
Tôi dắt hai đứa đi theo bà Sáu qua dãy bàn, vào bếp, qua cánh cửa sắt hẹp ở cuối gian. Bà kéo cửa đóng lại, cài then.
Trong bếp nồng mùi mỡ và hành phi. Nồi canh còn sôi liu riu trên bếp. Bà Sáu đứng dựa lưng vào cánh cửa vừa đóng, thở ra một hơi dài như vừa chạy một quãng.
“Tui không đuổi tụi nó,” bà nói. “Tui đuổi cho thằng kia thấy.”
Tôi chờ bà nói tiếp.
“Hôm kia, hai đứa này mò tới cửa sau, xin cơm nguội. Tui cho. Ăn xong nó đi. Hôm qua thằng đó tới.” Bà hất cằm về phía quán. “Cũng cái mũ đó, cũng cái áo mưa đó. Nó đưa tui coi cái hình hai đứa trẻ, hỏi có thấy không. Nó bảo là người nhà đang tìm, trả công năm triệu cho ai chỉ chỗ.”
“Dì nói sao?”
“Tui nói không biết. Nhưng nhìn mặt nó, tui không ưa. Người nhà tìm con mà đi hỏi từng quán, không báo c:ông an, không đi cùng ai, hỏi như đòi nợ.” Bà quay sang Khôi, giọng thô ráp: “Hôm nay tụi bây còn dám mò vô quán giữa ban ngày, có biết nó ngồi chờ ở góc kia từ trưa không?”
Khôi há miệng, hoảng hốt.
“Cháu không biết… Bi sốt, nó đ:ói, cháu…”
“Biết rồi.” Bà gạt đi. “Tui thấy nó ngồi đó từ lúc nhân viên bưng đĩa thịt qua. Tui sợ tụi bây lộ. Cho nên thằng nhỏ vừa nhặt miếng thịt là tui nhào ra làm ầm lên. Mắng tụi bây giữa quán, để nó thấy tui ghét tụi bây tới xương, khỏi nghi tui che giấu. Rồi tui định đuổi ra, đi vòng cửa hông gom vô lại.”
“Dì định đuổi hai đứa nó ra mưa để diễn à?” Tôi hỏi, giọng vẫn còn gắt.
Bà Sáu im một lúc.
“Tui làm sai cách,” bà nói. “Tui biết. Nhưng tui đâu có nghĩ ra cách nào khác. Người ta đã vô tới quán, tui một mình, đâu có dám cãi tay đôi.”
Tôi nhìn bà. Gương mặt hằn nếp, đôi mắt thâm quầng. Bà không giống người đang nói dối. Nhưng cũng không giống người dễ nhận mình sai. Tôi chỉ thấy một người đàn bà cả đời buôn bán, quen cứng rắn, hóa ra cũng biết sợ.
“Còn cái số điện thoại này?” tôi hỏi.
Bà Sáu đưa tay cầm mảnh giấy, nhìn lâu rồi trả lại.
“Tui nghĩ… chị nên gọi.”
Tôi bấm số. Chuông đổ hai hồi thì có người nhấc máy, giọng một người phụ nữ nhẹ, hơi vội:
“Alô, ai vậy ạ?”
“Chị là chị Hà phải không? Em là Vy, em đang ở quán cơm bà Sáu đầu chợ Tân Phú. Em đang ở cùng hai đứa nhỏ, Khôi và Bi.”
Đầu dây bên kia im lặng rất lâu. Rồi tôi nghe tiếng thở run.
“Hai đứa… hai đứa còn nguyên không em? Có bị thương không?”
“Bi sốt cao. Khôi thì…” Tôi liếc nhìn thằng bé. Cậu đang cúi mặt, hai tay ôm chặt em. “Chị cứ đến đây đi chị. Chị đừng đi cổng chính, em sợ có người theo dõi.”
“Chị đến liền. Em giữ tụi nhỏ giùm chị.”
Cúp máy, tôi nhìn quanh bếp, rồi bước tới sờ trán Bi. Nóng hầm hập. Tôi bảo bà Sáu lấy khăn ướt, lấy chén cháo, ép thằng bé ăn vài muỗng. Khôi ngồi bệt dưới sàn, đưa tay nhận chén cơm bà Sáu đặt trước mặt, ăn như người đã nhịn rất nhiều ngày.
Tôi ngồi xuống cạnh cậu.
“Giờ cháu kể cô nghe được chưa? Người đàn ông đó là ai?”
Khôi đặt đũa xuống. Cậu nhìn xuống tay mình rất lâu, đến khi giọng cậu bật ra, nhỏ xíu:
“Là chú Dũng. Em của bố cháu.”
Tôi chưa kịp hỏi thì cậu nói tiếp, nhanh như sợ mình sẽ không dám nói nữa.
“Bố cháu mất hồi đầu năm. Bố làm công trình, bị ngã giàn giáo. Công ty đền bốn trăm triệu. Mẹ cháu đã bệnh nặng từ trước đó, cứ nằm viện mãi. Chú Dũng bảo để chú giữ tiền, chú lo viện phí cho mẹ.”
Giọng cậu chậm lại.
“Mẹ cháu mất cách đây bốn mươi ngày. Chú Dũng đến nhà ở luôn. Chú bảo chú là người giám hộ của tụi cháu, chú giữ sổ đỏ, giữ hết tiền, giữ cả điện thoại của mẹ. Chú bán cái xe máy của bố. Rồi chú nói muốn bán nhà để lấy tiền cho cháu và Bi đi học.”
“Nhà ở đâu?”
“Dạ… ở Củ Chi.”
“Và cháu không đồng ý?”
“Dạ, cháu không đồng ý. Căn nhà là của ông bà nội để lại, đứng tên bố mẹ cháu. Bố mẹ dặn đừng bán.” Cậu nuốt khan. “Chú bảo cháu còn nhỏ, không có quyền ý kiến. Chú… chú đ:ánh cháu.”
Cậu kéo vạt áo thun lên một chút. Dưới ánh đèn bếp vàng vọt, tôi thấy những vệt tím xanh chạy dọc sườn, loang lổ, vài vết đã ngả sang vàng, vài vết còn mới.
Bà Sáu hít mạnh một hơi. Tôi nghe tiếng chiếc muỗng trong tay bà rơi lách cách xuống bàn bếp.
“Bi cũng bị?” tôi hỏi.
“Dạ, chú đ:ánh Bi một lần vì nó khóc đòi mẹ. Hôm kia chú nhốt tụi cháu trong nhà kho, bảo khi nào chịu ký giấy thì mới cho ra. Cháu cạy cửa sổ chui ra, dắt Bi chạy. Hai ngày nay tụi cháu ngủ ở bến xe.”
Tôi nghe mà thấy cổ họng nghẹn lại. Tôi nhìn Bi, thằng bé đã mệt, đang gục đầu vào đùi anh, hơi thở nóng hổi.
“Giấy gì mà chú bắt ký?”
“Cháu không biết, cháu chỉ nhớ có chữ ‘ủy quyền’. Chú đưa cho cháu một cây bút, bảo ký ở dưới. Cháu không ký.”
Chữ “ủy quyền” làm tôi giật mình. Là kế toán, tôi đã nhìn đủ loại hồ sơ để biết một đứa trẻ mười ba tuổi bị ép ký ủy quyền nghĩa là gì. Trẻ vị thành niên không thể tự ký bán tài sản. Cho nên người ta cần người đại diện, hoặc cần một chữ ký có thể nhờ cậy sau này.
“Cháu giữ bằng chứng gì không?” tôi hỏi. “Tin nhắn, ghi âm, bất cứ thứ gì?”
Khôi chần chừ, rồi thò tay vào lớp áo lót, lấy ra một chiếc điện thoại cũ màn hình nứt, bọc trong bao nilon.
“Cái này của mẹ. Chú Dũng không biết cháu giữ. Cháu giấu trong gối từ lâu. Mẹ có dặn cháu, nếu một ngày phải đi, nhớ mang theo.”
Tôi cầm lấy. Pin còn hai mươi phần trăm. Tôi mở khóa theo hướng dẫn của Khôi, vào mục ghi âm. Có đúng một đoạn, dài mười một phút, lưu từ tối hôm kia.
Tôi đeo tai nghe vào.
Đầu tiên là tiếng cãi vã, tiếng đồ đạc đổ. Rồi giọng một người đàn ông trầm, chua loét:
“Mày đừng ngu! Căn nhà đó bán được hơn sáu trăm triệu. Mày ký, tao chia cho hai anh em mày một nửa gửi ngân hàng, đứng tên tao giữ. Mày không ký, tao nhốt hai đứa mày tới khi nào ký thì thôi!”
Rồi tiếng Khôi, cố gắng không khóc:
“Chú giữ bốn trăm triệu của bố cháu rồi, chú còn muốn gì nữa?”
“Bốn trăm triệu? Mày tưởng còn bao nhiêu? Tao trả nợ cho bố mày, trả tiền viện phí cho mẹ mày, mày nợ tao chứ tao không nợ mày!”
Tôi tháo tai nghe ra, cảm giác lạnh chạy dọc sống lưng.
“Bố cháu có nợ ai không?” tôi hỏi.
“Dạ không. Bố cháu chưa bao giờ nợ.” Khôi đáp. “Chị Hà bảo bốn trăm triệu kia, viện phí của mẹ chưa tới một trăm. Chị đã tính cho cháu.”
Tôi giữ chiếc điện thoại thật chặt, và cuối cùng hiểu vì sao Khôi nhìn người đàn ông đội mũ như nhìn con thú dữ.
Cửa bếp bị đập mạnh hai tiếng.
“Dì Sáu! Mở cửa, tôi vô thanh toán tiền!”
Giọng đàn ông, trầm và lạnh. Bà Sáu tái mặt nhìn tôi. Bi giật mình, rúc vào ngực anh. Khôi nín thở.
“Dì ra nói chuyện với nó. Em lo tụi nhỏ,” tôi thì thào.
Bà Sáu hít một hơi sâu, chỉnh lại tạp dề, mở hé cánh cửa rồi bước ra, đóng lại sau lưng. Qua khe cửa, tôi nghe tiếng bà vang lên, thô ráp như thường lệ:
“Thanh toán? Anh ăn có tô cơm mà đòi cái gì?”
“Tôi hỏi hai đứa nhỏ lúc nãy đâu rồi.”
“Hai đứa ăn mày đó hả? Tui tống ra cửa sau rồi, ai biết chạy đâu.”
“Tôi thấy bà dắt tụi nó vô bếp.”
“Dắt vô bắt rửa chén. Chạy mất rồi.”
Im lặng một chút, rồi tiếng ghế bị đạp bật ra.
“Tránh ra. Tôi vô coi.”
“Anh làm cái gì vậy? Bếp của tôi, anh dám xông vô?”
Tôi không đợi nữa. Tôi nhét điện thoại của mẹ Khôi vào túi, rút điện thoại của mình ra, bật ghi hình, rồi mở then cửa, bước thẳng ra gian quán.
Người đàn ông đội mũ đã bỏ mũ xuống. Anh ta chừng ba mươi tám tuổi, mặt xương xẩu, mắt đỏ ngầu vì thiếu ngủ, đứng giữa quán như chủ nhà. Hai người đàn ông khác, lạ mặt, không biết từ đâu đã đứng chắn cả cửa chính. Khách trong quán bắt đầu lùi ra xa.
“Anh là chú Dũng?” Tôi hỏi, giọng cố giữ cho bình tĩnh.
Anh ta quay sang nhìn tôi, nheo mắt.
“Cô là ai?”
“Là người đang giữ hai đứa nhỏ.”
“Hai đứa đó là cháu tôi. Tôi là người giám hộ hợp pháp. Cô giao tụi nó cho tôi.” Anh ta giơ tay ra như thể chuyện đã xong.
“Giấy giám hộ đâu?”
“Giấy…” anh ta khựng lại, “ở nhà.”
“Vậy tôi xin phép gọi c:ông an phường tới xác minh. Có giấy thật thì đưa người đi, có gì phải giấu?”
Gương mặt anh ta cứng lại.
“Chuyện nhà tôi, cô đừng chen vô. Hai thằng nhỏ trốn nhà, tôi đi tìm. Cô giữ tụi nó là cô vi phạm pháp luật.”
“Nếu tôi giữ nhầm thì tôi chịu. Nhưng tôi vừa thấy những vết trên người thằng bé. Tôi cần người có thẩm quyền xem trước.”
“Vết nào? Tụi nó té! Trẻ con nghịch ngợm, té suốt!”
Tôi đứng im. Trong lòng tôi lúc đó có một thứ rất kỳ lạ. Không phải sợ, cũng không hẳn giận. Giống như khi đối chiếu sổ sách cuối quý, tôi chỉ biết hễ một con số không khớp thì phải lần cho ra.
“Chú Dũng,” tôi nói, “bốn trăm triệu tiền bồi thường của anh Tuấn bây giờ ở đâu?”
Mặt anh ta biến sắc. Hai người đứng ở cửa nhìn nhau.
“Cô… cô lấy đâu ra mà biết?”
“Khôi nói. Có ghi âm.”
Tôi giơ điện thoại lên cho anh ta thấy. Tôi không nói thêm. Chiếc điện thoại của mẹ Khôi vẫn nằm trong túi quần tôi, nhưng anh ta không biết đó là thứ gì.
Anh ta bước một bước dài, giằng tay về phía tôi. Bà Sáu từ phía sau lao tới, đứng chắn trước mặt tôi.
“Anh đụng tới người trong quán tôi là tôi hô cả chợ lên!” bà rống lên, giọng chát chúa, át cả tiếng mưa. “Cả chợ này đều biết nhà tôi. Anh có giỏi thì thử đi!”
Ngoài cửa, mấy người bán hàng gần đó bắt đầu thò đầu vào. Một chú xe ôm dừng xe, đứng ngó. Một cô bán rau chạy ra, rồi hai ba người nữa. Họ không nói gì, chỉ đứng thành một vòng lặng lẽ trước cổng quán. Người đàn ông đội mũ nhìn quanh, mặt tái xanh.
Đúng lúc ấy, có tiếng xe máy phanh gấp ngoài sân.
Một người phụ nữ khoảng ba mươi lăm tuổi, mặc áo blouse trắng khoác ngoài áo mưa, tóc búi vội, chạy thẳng vào quán, mũ bảo hiểm còn chưa kịp tháo. Chị nhìn quanh một vòng, mắt dừng lại ở bà Sáu rồi ở tôi.
“Chị là Hà.”
Bà Sáu quay sang nhìn chị, chớp mắt một lần, rồi một lần nữa.
“Chị Hà ở khoa ung bướu?” bà nói, như tự hỏi mình.
“Dạ… sao dì biết?”
Bà Sáu không trả lời. Bà chỉ nhìn chị rất lâu, rồi bật ra một tiếng cười khẽ, nửa như khóc.
“Hồi tháng trước, chị có ngồi ăn cơm ở đây một lần. Chị ngồi bàn đó, nhìn điện thoại cả buổi, khóc.” Bà dừng, hít một hơi. “Tui nhớ. Chị khóc vì người bệnh trên viện không qua khỏi. Tui nghĩ người này tâm lành.”
Chị Hà ngẩn ra, rồi cắn môi quay đi.
Tôi chỉ tay vào trong bếp.
“Tụi nhỏ ở trong đó.”
Chị Hà chạy thẳng vào. Tôi nghe tiếng Bi gào lên “Dì Hà!” rồi tiếng khóc vỡ ra của cả hai đứa. Người đàn ông đội mũ lùi lại một bước, rồi một bước nữa, mắt liếc tìm lối thoát.
“Tôi giám hộ hợp pháp,” anh ta nói lại, nhưng giọng không còn lớn. “Mấy người giữ hai đứa trẻ trái phép!”
Chị Hà bước ra, một tay dắt Bi, một tay đỡ Khôi. Chị nhìn thẳng vào anh ta, và lần này giọng chị không còn run:
“Anh Dũng. Chị Lan, mẹ hai đứa, khi mất đã gửi tôi một phong bì, bảo chỉ mở khi hai đứa gặp chuyện. Tôi nghĩ đã đến lúc.”
Chị rút ra từ túi áo blouse một chiếc phong bì trắng đã ngả màu, miệng dán băng keo. Người đàn ông tái đi.
“Chị… chị là ai mà…”
“Tôi là y tá chăm chị ấy ba tháng cuối đời. Chị ấy tin tôi hơn tin anh.”
Chị xé phong bì. Bên trong có hai tờ giấy, một tờ in, một tờ viết tay. Chị đọc lướt, rồi đọc to:
“Đây là bản di chúc có chứng thực của chị Lan, lập ngày hai mươi lăm tháng trước tại phòng công chứng gần bệnh viện. Căn nhà ở Củ Chi để lại cho hai con trai, không ai có quyền bán cho đến khi người con lớn đủ mười tám tuổi. Khoản tiền bồi thường bốn trăm triệu của anh Tuấn phải gửi tiết kiệm đứng tên hai con, người rút tiền phải có chữ ký của cả hai người giám hộ, gồm chị Hà và một người do tòa án chỉ định.”
Chị ngẩng lên.
“Và chị ấy đã chỉ định tôi làm người giám hộ thay thế nếu chị ấy mất, kèm theo xác nhận của hai nhân chứng. Chú Dũng không có tên trong giấy này.”
Quán lặng ngắt. Chỉ còn tiếng mưa rơi xuống mái tôn.
“Không thể nào,” người đàn ông lẩm bẩm. “Chị ấy đâu có…”
“Chị ấy đã không còn tin anh từ ngày anh xin giữ giùm tiền bồi thường,” chị Hà nói. “Chị ấy nhờ tôi tìm một luật sư. Tôi đã tìm.”
Anh ta nhìn quanh, ánh mắt của kẻ vừa rơi xuống một cái bẫy do chính mình đào. Hai người đàn ông đứng cửa nhìn nhau, lẳng lặng lùi ra, rồi quay đầu biến mất trong màn mưa. Anh ta gọi theo một tiếng, không ai ngoái lại.
Tôi bấm máy. Lần này tôi không do dự.
“Alô, c:ông an phường phải không ạ? Chúng tôi ở quán cơm bà Sáu, chợ Tân Phú. Có một vụ nghi ngờ b:ạo h:ành trẻ em và chiếm đoạt tài sản. Xin mời anh chị tới ngay.”
Người đàn ông đội mũ lao về phía cửa. Chú xe ôm đứng gần nhất chắn ngang. Hai người bán rau khác xúm lại. Không ai đ:ánh, không ai quát, chỉ có một bức tường người cứ thế khép lại.
Hai c:ông an phường tới sau mười phút. Họ lập biên bản tại chỗ, chụp ảnh vết thương của Khôi, ghi nhận lời khai của chị Hà, của bà Sáu, của tôi. Tôi nộp đoạn ghi âm. Khi người c:ông an đưa tay ra nhận chiếc điện thoại cũ của mẹ Khôi, tôi thấy tay cậu bé run lên.
“Cháu yên tâm,” anh c:ông an nói. “Cái này sẽ được giữ làm vật chứng. Chú không để mất đâu.”
Anh c:ông an còng tay người đàn ông. Bà Sáu đứng nhìn, hai tay ôm lấy mình, lần đầu tiên tôi thấy bà không còn cứng cỏi nữa.
“Dì Sáu,” Khôi bước tới, cúi đầu thật thấp. “Cháu xin lỗi dì. Cháu tưởng dì ghét tụi cháu thật.”
Bà Sáu đưa bàn tay thô ráp xoa đầu cậu, vụng về như người chưa từng làm việc đó bao giờ.
“Lần sau đói thì vô cửa hông. Dì để sẵn cơm.” Giọng bà khàn đi. “Còn cái bát nhôm, dì đền cho đứa em cái bát mới.”
Bi nghe vậy, từ lòng chị Hà ngẩng lên, nước mắt còn đọng trên má, khẽ cười một cái, tiếng cười thều thào nhưng thật lòng.
Xe c:ông an chở người đàn ông đi. Mưa đã nhỏ dần. Chị Hà đưa hai đứa lên xe cấp cứu của phường để đến b:ệnh v:iện khám. Tôi ở lại phụ bà Sáu thu dọn.
Khi chị Hà quay lại lấy túi, chị chợt nhớ ra điều gì, mở lại phong bì để cất tờ di chúc. Từ trong lớp giấy lót, một tờ giấy nhỏ rơi xuống nền gạch mà trước đó không ai nhìn thấy.
Chị nhặt lên, đọc. Môi chị run lên, mặt chị chuyển sang trắng bệch.
Tôi bước lại gần.
“Chị Hà?”
Chị không đáp. Chị đưa tờ giấy cho tôi, bàn tay lạnh ngắt.
Đó là nét chữ của mẹ Khôi, nguệch ngoạc như tờ giấy trong túi cậu con trai:
“Chị Hà, nếu một ngày chú Dũng nhận nuôi hai đứa, xin chị hỏi chú ấy một câu: hôm anh Tuấn ngã giàn giáo, ai là người đã đổi ca cho anh ấy? Vì tôi biết, hôm đó anh ấy không phải ca của mình.”
Ngoài sân, chiếc xe c:ông an đã rẽ qua góc chợ. Nhưng tôi bỗng có cảm giác, chuyện chiếc bát nhôm hôm nay mới chỉ là cái đầu của một sợi dây rất dài.
Tờ giấy trong tay tôi nhẹ hều, vậy mà tôi có cảm giác nó nặng như một viên đá.
Chị Hà đứng đó, hai vai run lên. Bà Sáu lặng lẽ kéo một chiếc ghế nhựa ra, đỡ chị ngồi xuống. Tôi đọc lại dòng chữ lần nữa. Ai là người đã đổi ca cho anh ấy? Hôm đó anh ấy không phải ca của mình.
“Chị Hà,” tôi nói khẽ, “chị Lan còn nói gì với chị về chuyện này không?”
“Chị ấy chỉ nói mơ hồ.” Chị Hà lau mắt bằng mu bàn tay. “Những ngày cuối chị ấy hay thức giữa đêm, bảo chị ấy nhớ ra một chuyện. Hôm anh Tuấn ngã, anh ấy gọi về nhà lúc năm giờ sáng, nói chú Dũng nhắn đổi ca, chú bảo có việc gấp, nhờ anh lên giàn giáo tầng cao thay. Chị Lan nghe được vì lúc đó chị nằm viện, anh gọi điện thoại cho chị. Chị không dám nói với ai. Chị sợ mình nghĩ oan cho em chồng.”
“Vậy là chị ấy nghi từ lâu?”
“Chị ấy không có bằng chứng. Chị ấy chỉ có linh cảm của một người vợ. Và linh cảm đó nằm trong tờ giấy này.”
Tôi nhìn ra phía góc chợ, nơi chiếc xe c:ông an vừa khuất. Một cảm giác lạnh chạy dọc sống lưng. Tôi nhớ bốn trăm triệu. Nhớ cách người đàn ông ấy nói “tao trả nợ cho bố mày”. Một người em ruột tự nguyện đứng ra giữ tiền đền bù cho anh trai vừa mất, rồi nhà cửa, rồi chữ ký. Mọi thứ cứ khớp vào nhau như những con số trên một cột sổ sách, chỉ còn thiếu một dòng.
“Chị Hà,” tôi nói, “chị đưa tờ giấy này cho c:ông an đi. Đừng giữ. Và chị nói rõ với họ chuyện đổi ca.”
“Nhưng nếu chị Lan nghĩ sai thì…”
“Thì c:ông an sẽ xác minh. Còn nếu chị ấy nghĩ đúng, mà mình im lặng thì sao?”
Chị Hà nhìn tôi rất lâu rồi gật đầu.
Chiều hôm đó, tôi và chị Hà cùng đến đồn. Bi được đưa vào b:ệnh v:iện nhi, truyền nước, hạ sốt. Khôi ngồi cạnh giường em, cả buổi không rời nửa bước, chỉ nhìn em chằm chằm như sợ chớp mắt một cái thì em biến mất.
Chị Hà đưa cho điều tra viên chiếc phong bì, bản di chúc, và mảnh giấy cuối cùng. Anh điều tra viên đọc xong, nhíu mày, lật lại lần nữa, rồi gọi điện cho ai đó ở phòng bên. Chúng tôi được mời ngồi chờ.
Bốn mươi phút sau, anh bước ra.
“Chị Hà, chị Vy. Chúng tôi vừa liên hệ lại hồ sơ tai nạn lao động hồi đầu năm. Biên bản hồi đó ghi nguyên nhân là anh Tuấn thiếu dây an toàn. Nhưng ghi nhận lời khai của công nhân có một chi tiết lạ: người nhận bàn giao ca sáng hôm ấy không phải anh Tuấn.”
“Ý anh là…”
“Ca của anh Dũng.”
Tôi nghe tim mình đập thình thịch.
“Anh Dũng cũng làm cùng công trình?”
“Cùng công ty, cùng tổ. Chính anh Dũng là người giới thiệu anh Tuấn vào làm. Sáng hôm ấy anh ta xin nghỉ đột xuất, nhờ anh Tuấn lên thế ca ở tầng mười hai. Giàn giáo tầng đó được kiểm tra chiều hôm trước nhưng có một chốt khóa bị tháo. Người ký biên bản kiểm tra là anh Dũng.”
Chị Hà bịt miệng. Tôi siết chặt tay chị.
“Còn tiền bồi thường,” anh điều tra viên nói tiếp, “công ty đã chuyển bốn trăm triệu vào tài khoản của chị Lan, vợ nạn nhân. Nhưng ba ngày sau, chị Lan chuyển tiền sang tài khoản anh Dũng, với nội dung ‘gửi giữ’. Hôm đó chị ấy nằm ở viện, đang truyền thuốc giảm đau liều cao. Chúng tôi nghi ngờ có sự ép buộc, hoặc giả mạo ủy quyền.”
Tôi nhớ lại lời Khôi: Chú bảo để chú giữ tiền, chú lo viện phí cho mẹ. Nghe thì như sự hy sinh. Hóa ra là một cái bẫy.
Đêm đó tôi không ngủ. Sáng hôm sau, chị Hà gọi tôi dậy bằng một tin nhắn: Chị Vy, anh Dũng khai rồi. Em đến đồn được không?
Khi tôi đến, trời vừa tạnh. Mặt đường còn đọng nước, phản chiếu những vệt nắng mỏng đầu tiên. Tôi bước vào phòng làm việc, thấy anh Dũng ngồi sau chiếc bàn trơ trọi, hai tay còng, mặt xám ngoét như người vừa rút sạch sinh lực.
“Cô… cô là cô kế toán hôm qua.”
Anh ta nói khẽ, không còn cái giọng sang sảng ở quán cơm. Tôi không đáp. Tôi chỉ ngồi xuống chiếc ghế đối diện, cách anh ta một khoảng.
“Anh đã nói gì với c:ông an?” tôi hỏi, vì tôi muốn nghe chính miệng anh ta.
Anh ta im một lúc, rồi cười một tiếng khô khốc.
“Tôi nợ năm trăm triệu. Cá độ bóng đá, lô đề, rồi vay nóng. Người ta đòi tới tận nhà. Tôi cùng đường nên mới nghĩ…” Anh ta dừng lại, nuốt khan. “Anh tôi có bảo hiểm tai nạn lao động. Công ty có chính sách đền bù. Tôi chỉ nghĩ nếu anh ấy bị thương nặng, nằm viện lâu, tiền bảo hiểm sẽ cứu tôi. Tôi không nghĩ anh ấy…”
“Không nghĩ anh ấy ch:ết?”
Chữ cuối cùng làm anh ta cúi gằm xuống.
“Tôi tháo cái chốt khóa tối hôm trước. Sáng hôm sau, tôi nhắn anh ấy lên thay ca. Tôi chỉ muốn anh bị gãy tay, gãy chân thôi. Tôi thề.”
“Anh thề với ai?” Giọng tôi cứng lại, hơn tôi nghĩ. “Với hai đứa nhỏ đang nằm viện, hay với chị Lan đã nằm xuống? Một cái chốt khóa tầng mười hai, anh nghĩ nó chỉ làm gãy tay chân?”
Anh ta không trả lời. Đôi vai anh ta rung lên, nhưng không thành tiếng.
Một lúc sau, anh ta nói tiếp, nhỏ như tiếng muỗi:
“Sau khi anh tôi mất, tôi sợ chị Lan hỏi. Tôi xin giữ tiền, nói để lo viện phí. Chị ấy yếu, mệt, tin tôi. Rồi chị ấy mất. Tôi nghĩ chuyện đã yên, còn căn nhà ở Củ Chi, bán đi là trả hết nợ. Ai ngờ…”
“Ai ngờ chị ấy để lại một tờ giấy.”
Anh ta ngẩng lên, đôi mắt đỏ ngầu.
“Chị ấy biết từ lâu rồi sao?”
“Chị ấy không biết gì cả,” tôi nói. “Chị ấy chỉ hỏi một câu. Và anh đã tự trả lời.”
Tôi đứng dậy, không nhìn anh ta thêm. Ở cửa phòng, tôi nghe giọng anh ta vọng lại, rất nhỏ:
“Hai đứa nhỏ… nó có hận tôi không?”
Tôi dừng bước nhưng không quay đầu.
“Đó là việc của hai đứa. Không phải của tôi, cũng không phải của anh.”
Ba tuần sau, tòa sơ thẩm mở phiên xét xử. Anh Dũng bị truy tố về hành vi c:ố ý gây thương tích dẫn đến ch:ết người, chiếm đoạt tài sản, ngược đ:ãi người dưới mười sáu tuổi, và giả mạo giấy tờ. Hai người đàn ông đứng chắn cửa quán hôm đó cũng bị mời lên làm việc, họ là chủ nợ của anh ta, được hứa trả bằng tiền bán nhà. Tiền bồi thường bốn trăm triệu được phong tỏa, truy thu về đúng tài khoản tiết kiệm đứng tên Khôi và Bi, như di chúc chị Lan đã định.
Trong phiên tòa, tôi ngồi hàng ghế sau cùng. Tôi thấy chị Hà ngồi cạnh Khôi. Cậu bé mặc chiếc áo sơ mi trắng chị mua cho, hơi rộng, tay áo xắn lên hai nếp. Khi chủ tọa phiên tòa hỏi cậu có điều gì muốn nói không, Khôi đứng dậy, hai tay nắm chặt vạt áo.
“Dạ… cháu chỉ muốn nói là cháu không hận chú.” Giọng cậu run, nhưng rõ từng chữ. “Nhưng cháu mong chú nhận hết những gì chú đã làm với bố cháu. Để bố mẹ cháu ở trên đó được yên.”
Cả phòng xử lặng đi. Chị Hà quay mặt đi, đưa tay lau mắt.
Anh Dũng bị tuyên án mức cao nhất. Lúc nghe bản án, anh ta không phản ứng. Anh ta chỉ nhìn xuống đôi bàn tay bị còng, như đang đếm xem mình đã đánh mất những gì.
Tôi bước ra khỏi tòa vào một buổi chiều nắng nhẹ. Khôi chạy theo tôi, chân đi đôi giày mới còn hơi cứng.
“Cô Vy!”
Tôi quay lại. Cậu đứng đó thở hổn hển, hai tay giữ chặt chiếc cặp sách mới.
“Dạ… cháu muốn cảm ơn cô. Nếu hôm đó cô không ngồi sát cửa, không nhặt tờ giấy…”
“Nếu hôm đó dì Sáu không giả vờ quát cháu,” tôi nói, “thì chú Dũng đã bắt được hai đứa ngay trong quán, trước khi cô kịp làm gì.”
Khôi ngẩn ra.
“Dì Sáu… dì ấy cũng cứu tụi cháu?”
“Dì ấy làm sai cách, nhưng dì ấy cứu. Cháu nhớ cả hai điều đó.”
Cậu gật đầu, cắn môi một lúc rồi nói nhỏ:
“Cháu hiểu rồi. Có những người nói lời cay độc nhưng trong lòng không ác.”
Tôi xoa đầu cậu, không nói thêm.
Căn nhà ở Củ Chi được giữ nguyên, đứng tên hai anh em, chị Hà làm người giám hộ hợp pháp theo di chúc, có sự xác nhận của tòa. Chị xin nghỉ ca đêm, chuyển sang trực ngày, thuê một căn phòng gần trường để Khôi và Bi ở cùng. Cuối tuần, chị dẫn hai đứa về Củ Chi dọn dẹp, thắp hương cho bố mẹ. Chị bảo chị không phải mẹ chúng nó, nhưng chị sẽ cố làm một người dì không để chúng nó thiếu bữa cơm nào.
Một tháng sau phiên tòa, tôi ghé quán cơm bà Sáu như thói quen. Trời hôm ấy nắng đẹp. Quán đông khách, tiếng chén đũa lách cách. Bà Sáu đứng sau quầy, vẫn chiếc tạp dề cũ, vẫn giọng quát nhân viên sang sảng.
Nhưng khi thấy tôi, bà dừng lại. Bà bước ra, kéo cho tôi chiếc ghế sát cửa, đúng chỗ tôi từng ngồi.
“Chị ăn gì?”
“Cho em phần cơm thịt kho.”
“Có ngay.”
Một lúc sau bà bưng ra một đĩa cơm đầy ắp, miếng thịt kho còn bốc khói. Bà đặt xuống bàn, rồi từ trong túi tạp dề rút ra một chiếc bát nhôm mới tinh, sáng bóng, đặt cạnh đĩa.
“Của thằng Bi. Hôm nào nó ghé, chị đưa giùm.”
“Dì đưa trực tiếp được mà. Tụi nhỏ vẫn ghé đây mà.”
“Ừ thì…” Bà gãi đầu, mặt hơi đỏ. “Tui quen quát rồi. Gặp tụi nó mà quát thì kỳ.”
Tôi bật cười. Bà Sáu nhìn tôi, rồi cũng cười, nụ cười lúng túng của một người không quen bày tỏ.
Cuối buổi, khi tôi đứng dậy trả tiền, bà đẩy tờ giấy bạc lại.
“Bữa nay tui khao.”
“Dì…”
“Chị cứu hai đứa nhỏ. Tui chỉ biết có vậy.”
Tôi cầm tờ tiền trong tay, không từ chối nữa. Ngoài cửa, nắng đổ xuống nền xi măng khô ráo, nơi một tháng trước từng có chiếc bát nhôm lăn lóc giữa mưa.
Chiều hôm đó, tôi đi ngang trường tiểu học gần chợ. Khôi đang đứng đợi em ở cổng, chiếc cặp sách đeo lệch một bên vai. Bi chạy ra, hai má hồng hào, trên tay cầm một chiếc bánh mì còn nóng.
“Anh Hai! Dì Hà mua cho em bánh mì chả nè! Có cả thịt nữa!”
Khôi cười, xoa đầu em, rồi bẻ đôi chiếc bánh, đưa cho em nửa lớn hơn.
Tôi đứng nhìn từ xa, không bước lại gần. Hai đứa trẻ vừa đi vừa nói chuyện, tiếng cười hòa vào tiếng xe cộ ngoài đường. Bi giơ chiếc bánh mì lên khoe với một chú bán vé số, chú cười, xoa đầu nó.
Tôi nhớ lại cái ngày mưa ấy. Nhớ cậu bé quỳ giữa nền gạch ướt, lấy tấm lưng gầy che cho em khỏi những ánh mắt khinh khỉnh. Cả quán đông người, chỉ cần một ai đó lên tiếng sớm hơn, mọi chuyện đã khác. Tôi không tự cho mình là người tốt. Tôi chỉ là một người đã không chịu nổi khi nhìn thấy một đứa trẻ bị đuổi ra mưa.
Và đôi khi, chỉ cần một người không im lặng là đủ.
-HẾT-